Phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự theo BLTTHS

Bộ luật Tủ Tố hình sự năm 2015 quy định về đương sự bao gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan trong vụ án hình sự (có sự khác biệt so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đương sự có thể bao gồm cả bị hại). Vậy có thể phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự như thế nào?

1. Phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự theo BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định cơ bản về bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự. Có thể phân biệt giữa bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án lịch sử thông qua một số điểm giống nhau, khác biệt như sau:

1.1. Giống nhau giữa bị hại và nguyên đơn dân sự: 

Thứ nhất, về đối tượng. Đối tượng của bị hại và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự đều có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức;

Thứ hai, về quyền của bị hại và nguyên đơn dân sự. Theo đó, bị hại và nguyên đơn dân sự đều có các quyền cơ bản như sau: Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình; quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền tham gia phiên tòa giải quyết vụ án; trình bày ý kiến và đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo/những người có liên quan tham gia phiên tòa; quyền tranh luận tại phiên tòa để hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, quyền xem biên bản phiên tòa sau quá trình giải quyết vụ án …

  • Gọi ngay: 1900.6586 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến!
  • Hoặc liên hệ Hotline: 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư hình sự!

1.2. Khác nhau giữa bị hại và nguyên đơn dân sự:

Tiêu chí

Bị hại

Nguyên đơn dân sự

Pháp luật

Điều 62 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Điều 63 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Khái niệm

Bị hại là khái niệm để chỉ cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, thiệt hại về uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra trên thực tế.

Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là khái niệm để chỉ những đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 63, Điều 64 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu nguyên đơn dân sự là các cá nhân, tổ chức, cơ quan bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Tính chất thiệt hại

Thiệt hại trực tiếp

Thiệt hại gián tiếp

Tham gia tố tụng

Bị hại trong vụ án hình sự được quyền tham gia thủ tục ngay cả khi không có yêu cầu.

Đối với nguyên đơn dân sự chỉ được tham gia tố tụng khi có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

 

 

Quyền

 

Căn cứ theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về quyền của bị hại. Theo đó, bị hại hoặc người đại diện của bị hại có các quyền cơ bản như sau:

  • Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của bị hại;

  • Quyền được đưa ra các loại chứng cứ, giấy tờ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu hợp pháp;

  • Có quyền trình bày ý kiến, quan điểm về các loại chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành hoạt động kiểm tra đánh giá các loại chứng cứ đó;

  • Có quyền đề nghị giám định, đề nghị định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

  • Có quyền được thông báo kết quả điều tra, thông báo kết quả giải quyết vụ án;

  • Có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, thay đổi người giám định, thay đổi người định giá tài sản, người phiên dịch hoặc người dịch thuật;

  • Có quyền đề nghị hình phạt hoặc đề nghị mức bồi thường thiệt hại, đề nghị biện pháp bảo đảm bồi thường;

  • Có quyền tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến và đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi các bị cáo cùng với những người tham gia phiên tòa khác, có quyền tranh luận tại phiên tòa để hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, có quyền xem biên bản phiên tòa;

  • Có quyền tự bảo vệ cho bản thân hoặc do người khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình;

  • Có quyền tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự;

  • Quyền kháng cáo bản án, kháng cáo đối với quyết định của Tòa án;

  • Có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

  • Có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, danh dự nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, quyền lợi hợp pháp của mình, của người thân khi bị đe dọa trái quy định.

Đồng thời, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại (Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) thì bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

Căn cứ theo quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nguyên đơn dân sự có một số quyền sau đây:

  • Quyền được thông báo và giải thích về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • Quyền đưa ra chứng cứ phải giấy tờ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu hợp pháp;

  • Có quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, giấy tờ, tài liệu, đồ vật có liên quan, có quyền yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện thủ tục kiểm tra đánh giá;

  • Được quyền thông báo kết quả điều tra, thông báo kết quả giải quyết vụ án;

  • Có quyền yêu cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

  • Có quyền đề nghị mức bồi thường thiệt hại, đề nghị biện pháp bảo đảm bồi thường theo quy định của pháp luật;

  • Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, thay đổi người định giá tài sản, thay đổi người giám định, thay đổi về dịch thuật hoặc người phiên dịch;

  • Có quyền tham gia phiên tòa, trình bày quan điểm ý kiến và đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa trong trường hợp cần thiết, có quyền tranh luận tại phiên tòa để hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn dân sự, có quyền xem biên bản phiên tòa;

  • Có quyền tự bảo vệ cho bản thân hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bản thân;

  • Khiếu nại đối với quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

  • Kháng cáo bản án, kháng cáo quyết định của tòa án liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại;

  • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nguyên đơn dân sự hạn chế quyền hơn so với bị hại trong vụ án hình sự.

 

Nghĩa vụ

 Nghĩa vụ của bị hại bao gồm:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong trường hợp có hành vi cố tình vắng mặt tuy nhiên không có lý do chính đáng (không do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) thì có thể bị dẫn giải;

  • Chấp hành đầy đủ quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

  • Tuy nhiên cần phải lưu ý, trong trường hợp bị hại đã qua đời, bị mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện của bị hại sẽ thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị hại.

Nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự bao gồm:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

  • Trình bày trung thực các tình tiết có liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại;

  • Chấp hành đầy đủ quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Xem thêm:  Mẫu đơn xin bãi nại của người bị hại và hướng dẫn viết đơn

Như vậy, mặc dù đều là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra trên thực tế, tuy nhiên giữa nguyên đơn dân sự và bị hại trong vụ án hình sự cũng có những điểm khác nhau. Có thể khái quát như sau:

  • Nguyên đơn dân sự chỉ được xác định là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra trên thực tế; còn bị hại được xác định là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra trên thực tế;

  • Cùng bị thiệt hại về thể chất, thiệt hại về tinh thần, kết hại về tài sản do tội phạm gây ra tuy nhiên khác với bị hại, thiệt hại của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không phải là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm;

  • Các cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra trên thực tế bắt buộc phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì mới được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định là nguyên đơn dân sự; ngược lại, đối với bị hại dù có đơn yêu cầu hay không có đơn yêu cầu thì họ vẫn được triệu tập với tư cách là bị hại.

2. Trường hợp bị hại vắng mặt có buộc phải hoãn phiên tòa không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về sự có mặt của bị hại, đương sự hoặc người đại diện của bị hại. Theo đó:

  • Trong trường hợp bị hại, đương sự hoặc người đại diện của bị hại vắng mặt thì tùy từng trường hợp khác nhau, Hội đồng xét xử có thể ra quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiếp tục tiến hành xét xử;
  • Trong trường hợp nhận thấy sự vắng mặt của bị hại, đương sự chỉ gây ra trở ngại cho quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử có thể tách biệt việc bồi thường thiệt hại để xét xử sau theo quy định của pháp luật. 
Xem thêm:  Bị hại trong vụ án hình sự có được phép ủy quyền không?

Như vậy, theo điều luật nêu trên thì trong trường hợp bị hại vẫn bắt KHÔNG BẮT BUỘC phải hoãn phiên tòa, tùy từng trường hợp Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa hoặc không hoãn phiên tòa (tiếp tục xét xử).

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ