Quyền thừa kế là gì? Nguyên tắc cơ bản quyền thừa kế?

Tài sản không chỉ được tạo lập, quản lý và sử dụng trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân mà còn có thể được chuyển giao cho người khác sau khi họ qua đời. Vậy, quyền thừa kế là gì và pháp luật quy định những nguyên tắc cơ bản nào về quyền thừa kế?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quyền thừa kế là gì?

Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Đây là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự nhằm bảo đảm tài sản của cá nhân được chuyển giao hợp pháp sau khi họ qua đời, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người được hưởng di sản.

Quyền thừa kế được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật;
  • Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Xét về nội dung, quyền thừa kế được thể hiện trên hai phương diện:

  • Người có tài sản có quyền quyết định việc chuyển giao tài sản của mình sau khi chết thông qua việc lập di chúc hoặc để tài sản được phân chia theo pháp luật;
  • Người thừa kế có quyền nhận di sản, yêu cầu phân chia di sản, thỏa thuận về việc phân chia hoặc từ chối nhận di sản theo các điều kiện do pháp luật quy định.

Quyền thừa kế chỉ được thực hiện đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người để lại di sản. Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung thì di sản chỉ bao gồm phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết trong khối tài sản chung. Người thừa kế được hưởng phần di sản theo nội dung di chúc hợp pháp hoặc theo thứ tự hàng thừa kế do pháp luật quy định.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Quyền thừa kế là quyền dân sự của cá nhân trong việc để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết và quyền của người thừa kế được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.”

  • Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư chuyên về thừa kế!
  • Kết nối Zalo (058.7999997) để được Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế!

2. Những nguyên tắc cơ bản về quyền thừa kế:

Quyền thừa kế là một trong những quyền tài sản cơ bản của cá nhân, bao gồm quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản do người khác để lại. Việc thực hiện quyền thừa kế phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể, tôn trọng ý chí tự nguyện của các bên; đồng thời phù hợp với truyền thống đoàn kết, yêu thương và chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình. Cụ thể như sau:

2.1. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế:

Bình đẳng về quyền thừa kế là nguyên tắc quan trọng được ghi nhận tại Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. 

Nguyên tắc này được hiểu là: Mọi cá nhân, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, độ tuổi, nghề nghiệp, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế hay nơi cư trú… đều được pháp luật bảo hộ như nhau khi thực hiện quyền thừa kế. Không ai có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền để lại tài sản, quyền hưởng di sản chỉ vì những đặc điểm cá nhân nêu trên.

Sự bình đẳng về quyền thừa kế được thể hiện trên hai phương diện:

  • Thứ nhất, mọi cá nhân có tài sản đều bình đẳng trong việc quyết định để lại tài sản của mình. Chủ sở hữu có thể lập di chúc để chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người, dành tài sản để di tặng, thờ cúng hoặc giao nghĩa vụ cho người thừa kế theo quy định pháp luật.
  • Thứ hai, những người có đủ điều kiện hưởng di sản đều được pháp luật bảo vệ quyền thừa kế như nhau. Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, những người thuộc cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Như: Vợ, chồng, cha mẹ, con trai, con gái, con đẻ và con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều bình đẳng khi phân chia di sản, không có sự ưu tiên chỉ vì giới tính hoặc quan hệ con đẻ, con nuôi.

Tuy nhiên, bình đẳng về quyền thừa kế không có nghĩa tất cả mọi người đều đương nhiên được hưởng phần di sản bằng nhau trong mọi trường hợp. Phần di sản thực tế mà mỗi người được nhận còn phụ thuộc vào nội dung di chúc, hàng thừa kế, việc từ chối nhận di sản, tư cách của người thừa kế và những thỏa thuận hợp pháp giữa các đồng thừa kế.

2.2. Tôn trọng ý chí tự nguyện của người để lại di sản và người thừa kế:

Pháp luật thừa kế trước hết tôn trọng quyền tự định đoạt của người có tài sản. Cá nhân có quyền lập di chúc để quyết định tài sản nào được dùng làm di sản, ai là người được hưởng, mỗi người được hưởng bao nhiêu và có phải thực hiện nghĩa vụ nào hay không…

Xem thêm:  Con rể có được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ vợ không?

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền sau đây (Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015):

  • Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Ý chí của người để lại di sản chỉ được pháp luật công nhận khi được thực hiện một cách tự nguyện. Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Nội dung di chúc không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).

Bên cạnh việc tôn trọng ý chí của người để lại di sản, pháp luật cũng tôn trọng sự tự nguyện của người thừa kế. Người được hưởng di sản có quyền tiếp nhận hoặc từ chối nhận di sản. Việc từ chối phải được lập thành văn bản, được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản và không được nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015).

Những người thừa kế cũng có quyền tự nguyện thỏa thuận về cách quản lý và phân chia di sản. Trường hợp có nhiều người cùng được hưởng thừa kế, các bên có thể thống nhất để chia tài sản bằng hiện vật, giao tài sản cho một người quản lý, để một người nhận toàn bộ tài sản và thanh toán giá trị cho những người còn lại hoặc lựa chọn phương án hợp pháp khác.

Như vậy, quyền thừa kế không chỉ bảo vệ ý chí của người có tài sản mà còn bảo đảm quyền tự quyết của người được hưởng di sản. Tuy nhiên, sự tự nguyện này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

2.3. Tôn trọng tình đoàn kết, tinh thần yêu thương và chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình:

Thừa kế không chỉ là việc chuyển giao tài sản mà còn gắn liền với quan hệ tình cảm, trách nhiệm nuôi dưỡng và sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình. Vì vậy, pháp luật thừa kế được xây dựng theo hướng bảo vệ tình đoàn kết, tinh thần yêu thương, chăm sóc và hỗ trợ lẫn nhau giữa những người thân thích.

Nguyên tắc này được thể hiện rõ trong việc xác định những người thừa kế theo pháp luật. Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 sắp xếp những người thừa kế thành 03 hàng dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Trong đó:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; 
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 

Việc ưu tiên những người có quan hệ gần gũi với người đã mất thể hiện sự ghi nhận của pháp luật đối với trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và gắn bó giữa các thành viên trong gia đình. Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản khi không còn người ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.

Nguyên tắc này còn được thể hiện tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo đó, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

  • Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
  • Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Quy định này nhằm bảo vệ những người thân thuộc gần gũi, đặc biệt là người chưa thành niên hoặc người không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ không được áp dụng nếu họ đã từ chối nhận di sản hoặc thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản hoặc có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản có thể không được quyền hưởng di sản. Quy định này thể hiện yêu cầu các thành viên gia đình phải có trách nhiệm yêu thương, chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau; người có hành vi trái với đạo đức gia đình không thể mặc nhiên được pháp luật bảo vệ quyền hưởng thừa kế.

Như vậy: Các nguyên tắc cơ bản về quyền thừa kế vừa bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản, quyền bình đẳng của mỗi cá nhân, vừa chú trọng bảo vệ những người thân thích và duy trì truyền thống đoàn kết trong gia đình. Đây là cơ sở quan trọng để xác định người thừa kế, giải thích di chúc, phân chia di sản và giải quyết các tranh chấp thừa kế phát sinh trên thực tế.

Xem thêm:  Có chuyển quyền thừa kế cho người khác được không?

3. Các hình thức thừa kế theo quy định pháp luật:

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản của người chết được chuyển giao cho người còn sống theo hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Cụ thể như sau:

3.1. Thừa kế theo di chúc:

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển giao di sản của người đã chết cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức theo ý chí được thể hiện trong di chúc. Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Thông qua việc lập di chúc, người có tài sản có quyền:

  • Chỉ định người thừa kế hoặc truất quyền hưởng di sản của một người;
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
  • Dành một phần tài sản để di tặng hoặc thờ cúng;
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; 
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý hoặc phân chia di sản.

Người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc không nhất thiết phải có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người lập di chúc. Người lập di chúc có thể để lại tài sản cho người thân, người ngoài gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nếu chủ thể được chỉ định đáp ứng điều kiện hưởng thừa kế.

Để được pháp luật công nhận, di chúc phải hợp pháp. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015): 

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

3.2. Thừa kế theo pháp luật:

Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định. Hình thức này được áp dụng khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không thể được thực hiện toàn bộ hay một phần.

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp chủ yếu sau:

  • Người chết không để lại di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp;
  • Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
  • Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
  • Người được chỉ định trong di chúc không có quyền hưởng di sản;
  • Người được chỉ định trong di chúc từ chối nhận di sản; 
  • Có phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
  • Có phần nội dung của di chúc không có hiệu lực pháp luật.

Người thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. 

Ví dụ: Một người qua đời không để lại di chúc và có vợ cùng hai người con. Nếu cha mẹ của người đó đều đã mất và không có tình tiết đặc biệt khác thì người vợ và hai người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất và mỗi người được hưởng một phần bằng nhau trong khối di sản.

Ngoài việc chia theo hàng thừa kế, pháp luật còn quy định về thừa kế thế vị. Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015).

4. Một số lưu ý khi thực hiện quyền thừa kế:

Việc thực hiện quyền thừa kế không chỉ dựa vào di chúc hoặc quan hệ giữa người thừa kế với người đã chết mà còn phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản, tình trạng pháp lý của di sản, thời điểm mở thừa kế và thủ tục đăng ký đối với từng loại tài sản. Để hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền lợi của các bên, cần lưu ý một số vấn đề sau:

4.1. Xác định đúng di sản và người thừa kế:

Trước khi phân chia di sản, cần xác định chính xác người chết để lại những tài sản nào. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Do đó, không phải toàn bộ tài sản mà người chết từng quản lý và sử dụng đều đương nhiên trở thành di sản. Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, hộ gia đình hoặc nhiều người thì phải xác định phần quyền của người chết trước, sau đó mới đưa phần tài sản này vào khối di sản để phân chia.

Khi xác định di sản, cần kiểm tra đầy đủ:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
  • Giấy đăng ký ô tô, xe máy;
  • Sổ tiết kiệm, tài khoản ngân hàng;
  • Cổ phần, cổ phiếu, phần vốn góp; 
  • Tài sản riêng và phần tài sản trong khối tài sản chung;
  • Các khoản tiền, quyền tài sản hoặc tài sản do người khác đang quản lý; 
  • Các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản được nhận. Nếu di sản chưa được chia, nghĩa vụ được thực hiện từ khối di sản theo thỏa thuận của những người thừa kế. Nếu di sản đã được chia, mỗi người thực hiện nghĩa vụ tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Xem thêm:  Chồng mất, vợ có được toàn quyền quản lý và chia di sản?

Bên cạnh việc xác định di sản, cần xác định đầy đủ những người có quyền hưởng thừa kế. Tùy từng trường hợp, người thừa kế có thể bao gồm:

  • Người được chỉ định trong di chúc;
  • Người thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật;
  • Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc;
  • Người được hưởng thừa kế thế vị;
  • Người được hưởng phần di sản không được định đoạt trong di chúc.

Việc bỏ sót người thừa kế có thể dẫn đến văn bản phân chia di sản bị tranh chấp hoặc phải điều chỉnh sau khi tài sản đã được sang tên. Vì vậy, cần kiểm tra đầy đủ quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng thông qua giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, giấy xác nhận quan hệ cha mẹ con, quyết định công nhận nuôi con nuôi và các giấy tờ có liên quan khác.

4.2. Kiểm tra tính hợp pháp của di chúc:

Có di chúc không đồng nghĩa toàn bộ di sản sẽ đương nhiên được phân chia theo nội dung di chúc. Trước khi thực hiện quyền thừa kế, cần kiểm tra di chúc có đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực hay không.

Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải bảo đảm người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Nội dung di chúc không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật.

Khi kiểm tra di chúc, cần lưu ý các nội dung sau:

  • Người lập di chúc có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi tại thời điểm lập hay không;
  • Việc lập di chúc có hoàn toàn tự nguyện hay có dấu hiệu bị tác động, lừa dối hoặc cưỡng ép;
  • Tài sản ghi trong di chúc có thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc hay không;
  • Người được chỉ định hưởng di sản có đáp ứng điều kiện hưởng thừa kế hay không; 
  • Nội dung và hình thức của di chúc có tuân thủ quy định pháp luật hay không;
  • Có tồn tại nhiều bản di chúc cùng định đoạt một tài sản hay không;
  • Di sản được định đoạt trong di chúc còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế hay không.

Di chúc có thể được lập bằng văn bản không có người làm chứng, bằng văn bản có người làm chứng, có công chứng, có chứng thực hoặc bằng miệng trong trường hợp đặc biệt. Di chúc miệng chỉ được lập khi tính mạng của một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản; nếu sau 03 tháng người đó vẫn còn sống, minh mẫn và sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015).

Trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Nếu chỉ một phần di chúc không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì phần hợp pháp vẫn có hiệu lực. Di chúc cũng có thể không có hiệu lực đối với người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc đối với phần tài sản không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế (Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015).

Ngoài ra, dù di chúc hợp pháp thì việc phân chia vẫn phải xem xét quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, gồm cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động trong các trường hợp luật định.

4.3. Lưu ý về thời hiệu yêu cầu phân chia di sản:

Thời hiệu là vấn đề đặc biệt quan trọng khi thực hiện quyền thừa kế. Việc chậm yêu cầu phân chia di sản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người thừa kế.

Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

  • Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015; 
  • Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Các thời hạn trên được tính kể từ thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người có tài sản chết.

Hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, di sản có thể thuộc về người thừa kế đang quản lý tài sản theo quy định của pháp luật. Vì vậy, người thừa kế không nên cho rằng tài sản chưa được chia thì quyền yêu cầu của mình sẽ được bảo lưu không giới hạn.

Trên thực tế, việc để quá lâu mới yêu cầu phân chia còn có thể dẫn đến thất lạc giấy tờ, thay đổi hiện trạng tài sản, phát sinh việc chuyển nhượng cho người khác, xuất hiện thêm nhiều thế hệ thừa kế hoặc khó khăn trong việc chứng minh quan hệ gia đình… Do đó, người có quyền thừa kế nên chủ động xác minh di sản và thực hiện thủ tục trong thời gian sớm nhất.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo