Thừa kế là quyền của cá nhân được hưởng tài sản do người đã mất để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, không phải người thừa kế nào cũng có nhu cầu trực tiếp nhận, quản lý hoặc sử dụng phần di sản của mình. Vậy, có chuyển quyền thừa kế cho người khác được không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Chuyển quyền thừa kế được hiểu như thế nào?
“Chuyển quyền thừa kế” có thể được hiểu là việc người có quyền hưởng di sản chuyển giao phần tài sản mà mình được hưởng cho người khác thông qua các hình thức phù hợp với quy định của pháp luật ( như thỏa thuận phân chia di sản, tặng cho hoặc chuyển nhượng tài sản thừa kế…).
Về phương diện pháp lý, hiện nay Bộ luật Dân sự năm 2015 không có bất kì quy định nào đưa ra khái niệm riêng về “chuyển quyền thừa kế”. Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
- Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật;
- Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Vì vậy, “chuyển quyền thừa kế” chỉ là cách gọi thông dụng để chỉ việc người thừa kế chuyển phần lợi ích hoặc tài sản thừa kế mà mình được hưởng cho người khác.
Quyền thừa kế chỉ phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người có tài sản chết (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015). Khi người có tài sản vẫn còn sống, những người dự kiến được hưởng di sản chưa có quyền sở hữu đối với tài sản và cũng chưa có phần thừa kế để chuyển cho người khác. Trong trường hợp này, người có tài sản vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ di chúc cũng như định đoạt tài sản của mình bằng các giao dịch hợp pháp.
Sau khi người để lại tài sản qua đời, người thừa kế có thể được xác định theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tùy từng trường hợp, người thừa kế có thể thỏa thuận để người thừa kế khác nhận phần di sản của mình; từ chối nhận di sản; hoặc hoàn thành thủ tục nhận thừa kế rồi tặng cho, chuyển nhượng tài sản đó cho người khác. Người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc cũng có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản theo quy định của Luật Công chứng năm 2024.
Đồng thời, cần phân biệt giữa “chuyển quyền hưởng di sản” và “chuyển quyền sở hữu tài sản thừa kế”. Chuyển quyền hưởng di sản được thực hiện trong quá trình khai nhận, phân chia di sản. Trong khi đó, chuyển quyền sở hữu tài sản thừa kế được thực hiện sau khi người thừa kế đã xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản (như tặng cho hoặc bán nhà đất đã được sang tên thừa kế).
Như vậy: Người thừa kế có thể chuyển phần tài sản thừa kế của mình cho người khác nhưng hình thức thực hiện sẽ phụ thuộc vào thời điểm chuyển giao, loại tài sản, người nhận và tình trạng pháp lý của di sản… Việc gọi chung là “chuyển quyền thừa kế” không có nghĩa là người thừa kế được “tự do thay thế mình bằng một người khác trong mọi trường hợp”.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư chuyên về thừa kế!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế!
2. Có được chuyển quyền thừa kế cho người khác không?
Theo phân tích tại Mục 1, pháp luật hiện hành không đưa ra khái niệm riêng biệt về “chuyển quyền thừa kế”. Tuy nhiên, tùy vào thời điểm và tình trạng pháp lý của di sản, một người có thể chuyển phần tài sản thừa kế của mình cho người khác thông qua việc thỏa thuận phân chia di sản, tặng cho hoặc chuyển nhượng tài sản.
Việc có được chuyển quyền hay không cần được xem xét trong hai trường hợp như sau:
2.1. Trường hợp khi người để lại tài sản còn sống:
Khi người có tài sản vẫn còn sống thì chưa phát sinh quan hệ thừa kế. Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
Do đó, người được chỉ định trong di chúc hoặc người dự kiến thuộc hàng thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với tài sản và cũng chưa có phần di sản cụ thể để chuyển cho người khác. Việc một người có tên trong di chúc tự lập giấy chuyển, nhường hoặc bán “phần thừa kế tương lai” của mình về nguyên tắc không làm phát sinh quyền sở hữu tài sản cho người nhận.
Ví dụ: Cha mẹ lập di chúc để lại một căn nhà cho con. Khi cha mẹ vẫn còn sống, người con chưa trở thành chủ sở hữu căn nhà nên không thể bán, tặng cho hoặc chuyển phần thừa kế đó cho người khác. Di chúc cũng có thể được người lập sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ theo quy định của pháp luật (Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015).
Trong trường hợp muốn tài sản thuộc về một người khác, người đang sở hữu tài sản có thể lựa chọn một trong các phương án sau:
- Sửa đổi hoặc lập lại di chúc để chỉ định người thừa kế khác;
- Tặng cho tài sản khi còn sống;
- Chuyển nhượng, mua bán tài sản cho người khác;
- Thực hiện các giao dịch định đoạt tài sản hợp pháp khác.
Như vậy, khi người để lại tài sản còn sống thì người dự kiến được hưởng thừa kế không thể tự mình chuyển quyền thừa kế cho người khác. Quyền quyết định đối với tài sản vẫn thuộc về chủ sở hữu.
2.2. Trường hợp sau khi người để lại tài sản qua đời:
Sau khi người có tài sản qua đời, thời điểm mở thừa kế được xác lập. Kể từ thời điểm này, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với di sản do người chết để lại.
Người thừa kế có thể chuyển phần tài sản mình được hưởng cho người khác nhưng phải lựa chọn hình thức phù hợp với từng giai đoạn.
- Trường hợp di sản chưa được phân chia, những người thừa kế có thể họp mặt và thỏa thuận về cách thức phân chia di sản. Nội dung thỏa thuận phải được lập thành văn bản. Theo đó, một người thừa kế có thể đồng ý để người thừa kế khác nhận tài sản cụ thể hoặc nhận phần di sản nhiều hơn theo sự thống nhất của những người có quyền hưởng di sản;
- Trường hợp muốn chuyển tài sản cho người không phải là người thừa kế, phương án bảo đảm chặt chẽ về pháp lý thường là hoàn thành việc phân chia và đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản trước. Sau đó, người thừa kế có thể lập hợp đồng tặng cho hoặc chuyển nhượng tài sản cho người khác nếu tài sản đáp ứng điều kiện giao dịch;
- Đối với nhà đất, người thừa kế thường phải thực hiện thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản, đăng ký sang tên rồi mới tiến hành tặng cho hoặc chuyển nhượng. Riêng trường hợp nhiều người cùng thừa kế, việc định đoạt toàn bộ tài sản chung phải có sự đồng ý của những người đồng sở hữu theo quy định pháp .
Ngoài ra, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015). Việc từ chối phải được lập thành văn bản, gửi cho người quản lý di sản, những người thừa kế khác hoặc người được giao nhiệm vụ phân chia di sản và phải được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản. Người thừa kế không được từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
Cần lưu ý rằng: Từ chối nhận di sản không đồng nghĩa với việc chuyển phần thừa kế cho một người do mình chỉ định. Khi một người từ chối nhận di sản, phần di sản đó sẽ được giải quyết theo nội dung di chúc hoặc theo quy định về thừa kế của pháp luật mà không đương nhiên thuộc về người mà họ mong muốn.
Như vậy, sau khi người để lại tài sản qua đời, người thừa kế có thể chuyển phần tài sản được hưởng cho người khác. Tuy nhiên, hình thức thực hiện sẽ phụ thuộc vào việc di sản đã được phân chia hay chưa và người nhận có phải là người thừa kế hay không. Để hạn chế tranh chấp, việc chuyển giao nên được lập thành văn bản và thực hiện đầy đủ thủ tục công chứng, đăng ký sang tên đối với tài sản mà pháp luật yêu cầu.
3. Các hình thức chuyển phần thừa kế cho người khác:
Sau khi người để lại di sản qua đời, người thừa kế có thể chuyển phần tài sản mình được hưởng cho người khác bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc lựa chọn hình thức nào phụ thuộc vào tình trạng phân chia di sản, người nhận tài sản và loại tài sản được thừa kế. Các phương án thường được áp dụng bao gồm:
3.1. Thỏa thuận phân chia và nhường phần di sản:
Khi có nhiều người cùng được hưởng thừa kế, những người này có thể họp mặt để thống nhất cách thức phân chia di sản. Theo Điều 656 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây: Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; cách thức phân chia di sản;
- Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.
Thông qua văn bản thỏa thuận phân chia di sản, một người thừa kế có thể đồng ý để người thừa kế khác nhận toàn bộ hoặc nhận nhiều hơn phần tài sản mà họ có thể được hưởng. Tuy nhiên, việc phân chia phải có sự thống nhất của những người có quyền đối với di sản và không được tự ý định đoạt phần quyền lợi của người thừa kế khác.
Phương án này thường sẽ phù hợp khi:
- Người nhận phần di sản cũng là một trong những người thừa kế;
- Di sản chưa được phân chia hoặc chưa đăng ký sang tên;
- Những người thừa kế không có tranh chấp và thống nhất được cách phân chia;
- Một người muốn nhận toàn bộ tài sản để thuận tiện quản lý, sử dụng.
Người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản. Văn bản phân chia di sản đã được công chứng là căn cứ để đăng ký chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.
Cần lưu ý: “Nhường phần di sản” trong trường hợp này không phải là quyền đơn phương của một người thừa kế để thay đổi toàn bộ phương án phân chia. Nếu di sản thuộc quyền chung của nhiều người thì việc xác định người nhận tài sản phải được thể hiện rõ trong văn bản thỏa thuận và được những người có liên quan thống nhất.
3.2. Tặng cho phần di sản được hưởng:
Tặng cho tài sản là việc một người chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác mà không yêu cầu người nhận phải thanh toán. Vì vậy, sau khi phần di sản của người thừa kế đã được xác định, người này có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần tài sản được hưởng cho người khác. Người nhận tài sản tặng cho có thể là:
- Một người thừa kế khác;
- Vợ, chồng, con hoặc người thân trong gia đình;
- Người không thuộc hàng thừa kế;
- Cá nhân hoặc tổ chức khác có đủ điều kiện nhận tài sản.
Khác với thỏa thuận phân chia di sản (mục 3.1), hình thức tặng cho không bắt buộc người nhận phải là người thừa kế. Tuy nhiên, người tặng cho chỉ được định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình và không được tự ý tặng cho phần tài sản thuộc quyền của những người đồng thừa kế khác.
3.3. Chuyển nhượng tài sản sau khi nhận thừa kế:
Sau khi đã hoàn thành thủ tục nhận thừa kế và xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản, người thừa kế có thể bán hoặc chuyển nhượng tài sản cho người khác.
Đây là hình thức chuyển giao có đền bù. Người nhận tài sản phải trả cho người thừa kế một khoản tiền hoặc lợi ích khác theo thỏa thuận. Theo Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
- Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan;
- Đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu, các bên có thể giao kết hợp đồng mua bán theo quy định chung. Đối với nhà đất hoặc tài sản phải đăng ký, người thừa kế phải bảo đảm mình đã có quyền hợp pháp đối với tài sản và thực hiện đúng yêu cầu về hình thức hợp đồng, công chứng, chứng thực và đăng ký sang tên.
Trường hợp tài sản thừa kế thuộc sở hữu chung của nhiều người, mỗi người chỉ được định đoạt phần quyền sở hữu của mình. Muốn chuyển nhượng toàn bộ tài sản thì phải có sự đồng ý của tất cả đồng chủ sở hữu. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình, còn việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu.
Ví dụ: Ba người cùng thừa kế một căn nhà nhưng chưa phân chia. Một người không thể tự mình ký hợp đồng bán toàn bộ căn nhà. Việc bán toàn bộ chỉ được thực hiện khi cả ba người cùng đồng ý hoặc sau khi tài sản đã được phân chia hợp pháp.
3.4. Từ chối nhận di sản:
Người thừa kế cũng có quyền từ chối nhận di sản. Tuy nhiên, từ chối nhận di sản không phải là hình thức trực tiếp chuyển phần thừa kế cho một người do mình lựa chọn.
Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác;
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết;
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản. Hồ sơ công chứng phải có giấy tờ chứng minh người để lại di sản đã chết và giấy tờ xác định quyền hưởng di sản của người từ chối.
Cần lưu ý rằng: Người từ chối nhận di sản không có quyền ghi trong văn bản rằng phần thừa kế của mình sẽ được chuyển cho một người cụ thể. Sau khi một người từ chối, phần di sản liên quan sẽ được giải quyết theo nội dung di chúc hoặc theo quy định về thừa kế của pháp luật.
Ví dụ: Ba người con cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Nếu một người từ chối nhận di sản thì phần tài sản liên quan sẽ được xác định và phân chia lại theo quy định mà không đương nhiên chuyển cho người mà người từ chối mong muốn.
Nếu mục đích là để một người cụ thể nhận tài sản, các bên nên lựa chọn thỏa thuận phân chia di sản hoặc hoàn tất thủ tục nhận thừa kế rồi lập hợp đồng tặng cho. Việc từ chối nhận di sản chỉ phù hợp khi người thừa kế thực sự không muốn tiếp nhận quyền và nghĩa vụ liên quan đến phần di sản đó.
Như vậy: Mỗi hình thức chuyển phần thừa kế có hậu quả pháp lý khác nhau. Thỏa thuận phân chia phù hợp khi chuyển phần hưởng cho người thừa kế khác; tặng cho hoặc chuyển nhượng phù hợp khi muốn chuyển tài sản cho một người cụ thể; còn từ chối nhận di sản không cho phép người từ chối tự chỉ định người nhận thay mình.
4. Những câu hỏi thường gặp về chuyển quyền thừa kế:
4.1. Có thể chuyển toàn bộ phần thừa kế cho người khác không?
Sau khi người để lại tài sản qua đời và quyền hưởng di sản đã phát sinh, người thừa kế có thể chuyển toàn bộ phần tài sản mình được hưởng cho người khác bằng hình thức phù hợp.
- Nếu người nhận cũng là người thừa kế, các bên có thể thỏa thuận trong văn bản phân chia di sản;
- Nếu người nhận không phải là người thừa kế, người có quyền hưởng di sản có thể hoàn thành thủ tục nhận thừa kế rồi lập hợp đồng tặng cho hoặc chuyển nhượng tài sản.
Tuy nhiên, người thừa kế chỉ được chuyển phần tài sản thuộc quyền của mình và không được tự ý định đoạt phần di sản của những người thừa kế khác. Văn bản phân chia di sản được công chứng là căn cứ để đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người được nhận di sản.
4.2. Có thể nhường phần thừa kế cho anh, chị, em không?
Người thừa kế có thể để anh, chị hoặc em nhận phần di sản của mình nếu người đó cũng thuộc diện được hưởng thừa kế và các bên thống nhất được phương án phân chia.
Ví dụ: Ba anh chị em cùng được thừa kế một căn nhà của cha mẹ. Các bên có thể lập văn bản phân chia di sản, thống nhất để một người nhận toàn bộ căn nhà, những người còn lại nhận tiền, tài sản khác hoặc không nhận tài sản theo thỏa thuận.
Trường hợp anh, chị hoặc em không phải là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, người thừa kế nên hoàn thành thủ tục nhận di sản trước; sau đó thực hiện việc tặng cho hoặc chuyển nhượng tài sản.
4.3. Có thể chuyển phần thừa kế cho người ngoài gia đình không?
Pháp luật không bắt buộc người nhận tài sản được tặng cho hoặc chuyển nhượng phải là người thân của người thừa kế.
Tuy nhiên, người ngoài gia đình không thể đương nhiên thay thế người thừa kế chỉ bằng một văn bản “nhường quyền thừa kế”. Người thừa kế cần xác lập quyền đối với phần di sản của mình; sau đó lập hợp đồng tặng cho, mua bán hoặc chuyển nhượng theo quy định.
Lưu ý: Đối với nhà đất, hợp đồng tặng cho hoặc chuyển nhượng phải đáp ứng điều kiện giao dịch; được công chứng hoặc chứng thực và đăng ký biến động theo quy định của pháp luật đất đai.
