Khi doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán đã giải thể hoặc rơi vào tình trạng phá sản, việc thu hồi công nợ thường phức tạp hơn so với trường hợp doanh nghiệp vẫn đang hoạt động bình thường. Vậy làm thế nào để đòi nợ công ty đã giải thể hoặc phá sản?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Làm thế nào để đòi nợ công ty đã giải thể hoặc phá sản?
Khi doanh nghiệp có khoản nợ nhưng đã thực hiện thủ tục giải thể hoặc rơi vào tình trạng phá sản, nhiều chủ nợ lo ngại rằng quyền đòi nợ của mình sẽ không còn được bảo đảm. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản không đương nhiên làm chấm dứt quyền yêu cầu thanh toán của chủ nợ. Tùy thuộc vào tình trạng pháp lý của doanh nghiệp và nguyên nhân, quá trình chấm dứt hoạt động, chủ nợ vẫn có thể thực hiện các biện pháp pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp sau đây:
- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;
- Theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác.
Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp.
Như vậy, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi doanh nghiệp đảm bảo đã thanh toán hết tất cả khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Tại khoản 5 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên sau đây:
- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
- Nợ thuế;
- Các khoản nợ khác;
Mặt khác, tại Điều 210 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:
- Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp;
- Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp, số nợ khác chưa thanh toán và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.
Như vậy: Nếu doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể/phá sản nhưng vẫn còn các khoản nợ chưa được thanh toán, cần xem xét liệu doanh nghiệp có kê khai đầy đủ các khoản nợ trong hồ sơ giải thể và thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật hay không.
Trường hợp có căn cứ cho thấy doanh nghiệp hoặc người có trách nhiệm cố tình không kê khai, che giấu khoản nợ hoặc lập hồ sơ giải thể không trung thực nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán thì những người có liên quan có thể phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp này, chủ nợ có quyền yêu cầu người có trách nhiệm đối với quá trình giải thể thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi trách nhiệm của họ. Nếu các bên không tự nguyện giải quyết hoặc có tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, chủ nợ có thể thu thập tài liệu, chứng cứ và khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
2. Công ty phá sản nhưng giá trị tài sản không đủ để thanh toán, xử lý như thế nào?
Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau đây:
(1) Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau đây:
- Chi phí phá sản;
- Khoản nợ lương;
- Khoản nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
- Trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động;
- Khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;
- Khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
(2) Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
- Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân;
- Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
- Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;
- Thành viên của Công ty hợp danh.
(3) Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
Theo đó, trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp không đủ để thanh toán toàn bộ các khoản nợ thuộc cùng một thứ tự ưu tiên theo khoản 1 Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025 thì các chủ nợ và đối tượng có quyền thanh toán trong cùng thứ tự ưu tiên sẽ được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số nợ của từng người.
Nói cách khác, khi tài sản còn lại không đủ để thanh toán đầy đủ cho tất cả các khoản nợ cùng thứ tự ưu tiên, số tiền thực tế mỗi chủ nợ được nhận sẽ được phân chia theo tỷ lệ giữa khoản nợ của mình và tổng số các khoản nợ thuộc cùng thứ tự ưu tiên. Điều này nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các chủ nợ có cùng thứ tự ưu tiên trong quá trình xử lý tài sản của doanh nghiệp.
3. Chủ nợ cần làm gì để tăng khả năng thu hồi nợ khi công ty đã giải thể, phá sản?
Khi doanh nghiệp có dấu hiệu ngừng hoạt động, giải thể, mất khả năng thanh toán hoặc đang tìm cách thu hẹp hoạt động kinh doanh, thời điểm xử lý công nợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với khả năng thu hồi nợ. Chủ nợ càng chậm trễ, nguy cơ tài sản bị giảm sút, thay đổi tình trạng pháp lý hoặc phát sinh thêm các nghĩa vụ khác càng lớn. Vì vậy, thay vì chờ đến khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể hoặc phá sản thì chủ nợ cần chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
- Thứ nhất, rà soát và củng cố toàn bộ hồ sơ chứng minh khoản nợ. Chủ nợ cần tập hợp hợp đồng, phụ lục hợp đồng, hóa đơn, chứng từ giao nhận, biên bản nghiệm thu, biên bản đối chiếu công nợ, chứng từ thanh toán và các tài liệu trao đổi giữa các bên. Việc xác định rõ căn cứ phát sinh, số tiền, thời hạn thanh toán và hành vi vi phạm nghĩa vụ sẽ tạo nền tảng quan trọng cho quá trình thương lượng hoặc giải quyết tranh chấp sau này.
- Thứ hai, xác minh chính xác tình trạng pháp lý của doanh nghiệp. Cần xác định doanh nghiệp đang hoạt động, tạm ngừng kinh doanh, đang thực hiện thủ tục giải thể, đã giải thể hay đang trong quá trình phá sản. Việc xác định đúng tình trạng pháp lý giúp chủ nợ lựa chọn đúng cơ chế thu hồi nợ và tránh bỏ lỡ các thời hạn thực hiện quyền của mình.
- Thứ ba, chủ động tìm hiểu về tài sản và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh việc xác định khoản nợ, chủ nợ cần quan tâm đến tài sản, quyền tài sản, các khoản phải thu và những nguồn có khả năng được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ của doanh nghiệp. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi một khoản nợ có đầy đủ căn cứ pháp lý nhưng không còn tài sản để thi hành thì khả năng thu hồi trên thực tế vẫn rất hạn chế.
- Thứ tư, xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm và lựa chọn phương án pháp lý phù hợp. Chủ nợ cần phân biệt trách nhiệm của doanh nghiệp với trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật. Không phải mọi trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ đều dẫn đến trách nhiệm trả nợ bằng tài sản cá nhân của những người này. Việc xác định đúng chủ thể sẽ giúp hạn chế rủi ro khởi kiện sai đối tượng và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ.
- Thứ năm, chủ động thực hiện các quyền pháp lý trong thời hạn luật định. Tùy từng trường hợp, chủ nợ có thể gửi yêu cầu thanh toán, thương lượng phương án trả nợ, khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu áp dụng biện pháp cần thiết để bảo toàn quyền lợi hoặc tham gia thủ tục phá sản khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Đặc biệt, khi doanh nghiệp đã bước vào quá trình giải thể hoặc phá sản, chủ nợ cần chủ động thực hiện quyền của mình thay vì chờ doanh nghiệp tự giải quyết.
Như vậy, doanh nghiệp đã giải thể hoặc phá sản không đồng nghĩa với việc chủ nợ đương nhiên mất quyền đòi nợ. Tuy nhiên, khả năng thu hồi phụ thuộc rất lớn vào thời điểm chủ nợ hành động, tình trạng tài sản của doanh nghiệp, căn cứ chứng minh khoản nợ và phương thức pháp lý được lựa chọn. Đối với doanh nghiệp giải thể, cần đặc biệt kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ và quá trình giải thể; đối với doanh nghiệp phá sản, cần thực hiện đầy đủ quyền của chủ nợ trong khuôn khổ thủ tục phá sản.
Đặc biệt, nếu có căn cứ cho thấy doanh nghiệp hoặc người quản lý cố tình che giấu khoản nợ, không kê khai nghĩa vụ tài sản, lập hồ sơ giải thể không trung thực hoặc thực hiện hành vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán, chủ nợ cần nhanh chóng thu thập, bảo toàn chứng cứ và lựa chọn biện pháp pháp lý phù hợp.
