Vì nhiều lý do như công việc, khoảng cách địa lý hoặc không thể trực tiếp tham gia tố tụng...chủ nợ có thể mong muốn ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện thủ tục khởi kiện, làm việc với Tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Vậy, ủy quyền cho người khác khởi kiện đòi nợ có được không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Ủy quyền cho người khác khởi kiện đòi nợ được không?
Ủy quyền cho người khác khởi kiện đòi nợ có thể bao gồm việc ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến quá trình khởi kiện như: Soạn đơn khởi kiện, nộp đơn, àm việc với Tòa án và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền đòi nợ trong phạm vi được ủy quyền. Tùy từng trường hợp pháp luật cho phép được ủy quyền, cụ thể như sau:
1.1. Ủy quyền làm đơn khởi kiện:
Khoản 2 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:
- Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
- Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
- Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
Lưu ý: Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không có quy định cụ thể và cũng không có quy định cấm về hình thức ủy quyền làm đơn khởi kiện. Do đó, hình thức ủy quyền làm hộ đơn khởi kiện có thể là:
- Trực tiếp (ủy quyền bằng lời nói);
- Văn bản (giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền…);
- Hành vi pháp lý đơn phương: Bên được ủy quyền tự thực hiện công việc soạn đơn mà không cần thông qua văn bản ủy quyền;
Trường hợp người khởi kiện là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người này có thể tự mình lập đơn khởi kiện hoặc nhờ người khác hỗ trợ soạn thảo đơn. Tuy nhiên, việc nhờ người khác làm đơn không đồng nghĩa với việc được ủy quyền ký thay.
Người khởi kiện phải tự mình ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện. Hay nói cách khác, trong trường hợp thông thường, cá nhân CÓ THỂ ủy quyền cho người khác soạn thảo đơn khởi kiện nhưng KHÔNG được ủy quyền cho người khác ký thay đơn khởi kiện.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
1.2. Ủy quyền nộp đơn khởi kiện:
Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
- Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.
Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về người đại diện theo ủy quyền như sau:
- Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự;
- Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ;
- Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền. Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án.
- Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
Và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, cá nhân hoàn toàn CÓ THỂ ủy quyền cho người khác nộp đơn khởi kiện.
1.3. Ủy quyền tham gia tố tụng:
Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
- Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân;
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Phạm vi đại diện theo ủy quyền do các bên tự thỏa thuận nhưng phải đảm bảo:
- Việc ủy quyền, nhận ủy quyền là đúng pháp luật: Do các bên tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép hoặc không thuộc trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu;
- Việc ủy quyền nên được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực;
- Nên lựa chọn người mà mình tin tưởng, người thân… để thực hiện ủy quyền.
Như vậy, đương sự hoàn toàn CÓ THỂ ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia tố tụng dân sự hoặc hành chính, ngoại trừ trường hợp pháp luật yêu cầu người đó phải tự mình có mặt.
2. Văn bản ủy quyền khởi kiện đòi nợ có phải công chứng, chứng thực không?
Điều 86 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:
- Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện;
- Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.
Căn cứ các quy định nêu trên, việc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng phải được xác lập bằng văn bản. Đồng thời, khi rà soát các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có thể thấy trường hợp ủy quyền thực hiện việc kháng cáo là trường hợp đặc biệt, trong đó pháp luật đặt ra yêu cầu về hình thức chặt chẽ hơn đối với văn bản ủy quyền (phải được công chứng, chứng thực hoặc được lập tại Tòa án theo quy định).
Cụ thể, khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
Như vậy: Văn bản ủy quyền tham gia tố tụng về nguyên tắc KHÔNG bắt buộc phải được công chứng, chứng thực; trừ trường hợp ủy quyền thực hiện quyền kháng cáo do đây là trường hợp pháp luật đặt ra yêu cầu riêng về hình thức.
3. Những trường hợp không được ủy quyền khởi kiện đòi nợ:
Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự cho phép đương sự ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền đại diện theo ủy quyền không phải là quyền tuyệt đối. Trong một số trường hợp, do tính chất đặc biệt của vụ việc hoặc để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, pháp luật quy định đương sự hoặc người đại diện phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng. Cụ thể, những trường hợp không được đại diện theo ủy quyền gồm:
a. Quyền, lợi ích đối lập với người ủy quyền tại cùng vụ việc:
Điểm a Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:
Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật: Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện.
Quy định này nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm người đại diện thực sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người mà mình đại diện.
b. Một người đồng thời đại diện cho các bên có quyền lợi đối lập:
Điểm b Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:
Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật: Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.
Một người cũng không được đại diện cho một đương sự nếu người đó đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác trong cùng vụ việc, trong khi quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự này đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện.
Nói cách khác, pháp luật không cho phép một người cùng lúc đứng ở hai phía để đại diện cho các bên có quyền và lợi ích đối lập nhau trong cùng một vụ án, bởi điều này có thể dẫn đến xung đột lợi ích và ảnh hưởng đến tính khách quan của việc đại diện.
