Hành vi đe doạ và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý thế nào?

Trong quá trình vay mượn hoặc giải quyết công nợ, dù xuất phát từ bất kỳ lý do nào thì hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa gây hại để ép buộc trả tiền đều có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Vậy, đe dọa và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý thế nào?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Đe doạ và tấn công chủ nợ bị xử lý thế nào?

Vay tiền không những không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà còn đe dọa, hành hung hoặc dùng vũ lực đối với chủ nợ nhằm ép buộc chủ nợ phải từ bỏ việc đòi tiền, trả lại giấy tờ, tài sản… hoặc thực hiện một yêu cầu trái với ý chí của mình có thể bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, mục đích thực hiện, hậu quả xảy ra và các tình tiết cụ thể của vụ việc, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.1. Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Nếu hành vi đe dọa, tấn công chủ nợ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015. Các tội danh cơ bản có thể bị truy cứu như sau:

  • Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 nếu hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của chủ nợ;
  • Tội đe dọa giết người theo Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 nếu có hành vi đe dọa làm cho chủ nợ có căn cứ thực sự lo sợ việc đe dọa sẽ được thực hiện;
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 nếu dùng vũ lực gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho chủ nợ và đáp ứng các điều kiện luật định;
  • Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 nếu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản;
  • Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 nếu dùng thủ đoạn đe dọa hoặc uy hiếp về tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa nhằm mục đích buộc chủ nợ phải từ bỏ quyền yêu cầu thanh toán, giao lại tài sản hoặc thực hiện một yêu cầu trái ý muốn, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào toàn bộ diễn biến vụ việc để xác định chính xác tội danh thay vì chỉ dựa vào việc giữa hai bên đang tồn tại quan hệ vay nợ.

  • Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
  • Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!

1.2. Chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:

Trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định pháp luật.

Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội được thực hiện theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/12/2025, thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP trước đây).

Tùy hành vi cụ thể, người vi phạm có thể phải chịu hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng theo quy định.

1.3. Chủ nợ cần làm gì khi bị đe dọa hoặc tấn công?

  • Nếu đang bị đe dọa, hành hung hoặc có nguy cơ bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, chủ nợ nên ưu tiên bảo đảm an toàn cho bản thân và đồng thời nhanh chóng trình báo cơ quan Công an có thẩm quyền;
  • Các tài liệu như tin nhắn, ghi âm, hình ảnh, video, camera an ninh, lịch sử cuộc gọi, thông tin người làm chứng, giấy chứng nhận thương tích và các tài liệu liên quan đến khoản vay có thể được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền để phục vụ việc xác minh và giải quyết vụ việc;
  • Việc người vay có khoản nợ với chủ nợ là một quan hệ dân sự. Nếu có tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ, các bên phải sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật mà không được dùng bạo lực, đe dọa hoặc các thủ đoạn trái pháp luật để ép buộc bên còn lại.
Xem thêm:  Mẫu thông báo công nợ gửi khách hàng doanh nghiệp

Như vậy: Tùy tính chất, mức độ và hậu quả, hành vi ”Đe doạ và tấn công chủ nợ buộc trả lại tiền” có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, thậm chí phải chịu trách nhiệm về nhiều tội danh nếu đồng thời xâm phạm các khách thể khác nhau.

2. Hành vi đe doạ và tấn công, ép buộc người vay trả tiền bị xử lý thế nào?

Chủ nợ không được dùng bạo lực, đe dọa hoặc các biện pháp trái pháp luật để ép buộc người vay thanh toán. Khi quyền đòi nợ bị biến thành hành vi đe dọa, hành hung, cưỡng ép hoặc xâm phạm tài sản thì chủ nợ có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Tùy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả xảy ra và các yếu tố cấu thành cụ thể, người có hành vi vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và phải bồi thường thiệt hại.

2.1. Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Nếu hành vi đe dọa, tấn công hoặc cưỡng ép người vay có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, chủ nợ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc nhiều tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015.

a. Tội cố ý gây thương tích:

Nếu chủ nợ dùng tay chân, hung khí hoặc bằng thủ đoạn khác cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người vay, tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, tính chất của hành vi, công cụ sử dụng và các tình tiết liên quan…, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người gây thương tích còn có thể phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo quy định của pháp luật dân sự, bao gồm chi phí hợp lý cho việc điều trị, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần cùng các thiệt hại khác theo từng trường hợp.

ĐIều 590 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; 
  • Thiệt hại khác do luật quy định.

b. Tội phạm về vũ khí quân dụng:

Nếu chủ nợ sử dụng dao, hung khí hoặc phương tiện nguy hiểm để uy hiếp, tấn công người vay, trách nhiệm pháp lý sẽ được xem xét dựa trên đặc điểm của công cụ, mục đích sử dụng, cách thức sử dụng và hậu quả thực tế.

Xem thêm:  Mẫu công văn đòi nợ, yêu cầu thanh toán nợ quá hạn

Đặc biệt, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn số 01/TANDTC-PC, trong trường hợp loại dao thuộc trường hợp được pháp luật xác định là vũ khí quân dụng và được sử dụng trái pháp luật để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác thì người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015:

  • Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm;
  • Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Nếu cùng một hành vi vừa đủ yếu tố cấu thành tội phạm về vũ khí quân dụng vừa đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích thì người thực hiện hành vi đó có thể bị xử lý về cả 02 tội danh theo quy định tại Công văn số 01/TANDTC-PC.

c. Tội cưỡng đoạt tài sản:

Theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, để xác định hành vi có cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản hay không phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm; trong đó có hành vi dùng thủ đoạn đe dọa hoặc uy hiếp tinh thần và mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản.

Do đó, nếu chủ nợ đe dọa, uy hiếp người vay nhằm buộc người này phải giao tài sản trái với ý chí của họ và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015.

Cần lưu ý, việc giữa hai bên tồn tại khoản nợ không đồng nghĩa với việc chủ nợ được quyền dùng thủ đoạn đe dọa, uy hiếp để tự mình cưỡng ép người vay giao tài sản. Việc khoản tiền bị yêu cầu là “tiền nợ” sẽ phải được xem xét cùng toàn bộ diễn biến, mục đích và phương thức thực hiện hành vi để xác định trách nhiệm pháp lý.

d. Trường hợp hậu quả nghiêm trọng xảy ra:

Ngoài những tội danh nêu trên, trong quá trình đòi nợ nếu chủ nợ sử dụng bạo lực và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì trách nhiệm hình sự có thể không chỉ dừng lại ở hành vi gây thương tích.

  • Nếu có căn cứ xác định người thực hiện có ý định tước đoạt tính mạng hoặc hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành, người đó có thể bị xem xét về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015;
  • Trường hợp không có mục đích tước đoạt tính mạng nhưng hành vi vi phạm dẫn đến chết người, tùy diễn biến cụ thể mà người thực hiện có thể bị xem xét về Tội vô ý làm chết người hoặc tội danh tương ứng khác;
  • Quá trình đòi nợ có hành vi tụ tập đông người, đánh nhau, gây náo loạn, đập phá hoặc làm mất an ninh, trật tự công cộng đến mức đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm còn có thể bị truy cứu về Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015.
Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền đòi nợ và cách uỷ quyền thu hồi nợ

2.2. Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự:

Không phải mọi hành vi đe dọa, chửi bới, xô xát hoặc gây thương tích đều mặc nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể phải chịu các chế tài khác theo quy định pháp luật.

a. Xử phạt vi phạm hành chính:

  • Tùy tính chất và hành vi cụ thể, chủ nợ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về an ninh, trật tự an toàn xã hội.
  • Việc xử phạt hiện nay được thực hiện theo các quy định hiện hành, trong đó có Nghị định 282/2025/NĐ-CP.
  • Như vậy, việc hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm không có nghĩa là người thực hiện được miễn trách nhiệm pháp lý.

b. Bồi thường thiệt hại:

Nếu hành vi đe dọa, hành hung hoặc xâm phạm trái pháp luật gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người vay, người gây thiệt hại có thể phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự. Cụ thể:

  • Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Đòi nợ như thế nào để đúng theo quy định pháp luật?

  • Đòi nợ đúng pháp luật là việc chủ nợ sử dụng các phương thức hợp pháp để yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện khoản nợ; đồng thời không xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người nợ.
  • Theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
  • Do đó, khi khoản nợ đã đến hạn nhưng bên vay hoặc bên có nghĩa vụ vẫn không thanh toán, chủ nợ có thể thực hiện các bước như: Gửi thông báo yêu cầu thanh toán, thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết. Trường hợp cần thiết, chủ nợ cũng có thể ủy quyền cho Luật sư thực hiện các công việc pháp lý trong phạm vi được ủy quyền.
  • Ngược lại, chủ nợ không nên sử dụng các phương thức đòi nợ mang tính đe dọa, cưỡng ép, xúc phạm, gây rối, xâm phạm chỗ ở, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người có nghĩa vụ. Việc tự ý sử dụng những biện pháp này không những không giúp khoản nợ được thu hồi mà còn có thể khiến chính chủ nợ hoặc người thực hiện việc đòi nợ phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu hành vi vi phạm đủ yếu tố theo quy định (nêu trên).

Như vậy: Khoản nợ hợp pháp cần được thu hồi bằng phương thức hợp pháp. Thay vì sử dụng các biện pháp đòi nợ ”cực đoan” hoặc thuê người thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ nợ nên chủ động chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, chứng cứ về khoản nợ và lựa chọn phương án phù hợp như thương lượng, gửi yêu cầu thanh toán hoặc khởi kiện tại Tòa án. Đây là cách tiếp cận an toàn, minh bạch và giúp chủ nợ bảo vệ quyền lợi của mình một cách bền vững.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo