Bắt giữ người, đánh người để đòi nợ bị xử lý thế nào?

Đòi nợ là quyền hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi có căn cứ xác định nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, việc tự ý bắt giữ, khống chế hoặc đánh người để ép trả nợ có thể vượt quá giới hạn pháp luật và dẫn đến nhiều trách nhiệm khác nhau. Vậy hành vi này bị xử lý thế nào?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Bắt giữ người, đánh người để đòi nợ có vi phạm pháp luật không?

Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định:

  • Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
  • Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định;
  • Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.

Đối với quan hệ vay tài sản, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Khi khoản vay đến hạn mà bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay có quyền yêu cầu thanh toán, thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, quyền đòi nợ không đồng nghĩa với quyền tự ý bắt giữ, khống chế hoặc sử dụng vũ lực đối với người vay.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định các trường hợp bắt người bao gồm:

  • Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh;
  • Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Như vậy: Một cá nhân hoặc nhóm người tự ý bắt giữ con nợ, giữ người tại một địa điểm, khống chế, đe dọa hoặc đánh đập nhằm buộc họ phải trả tiền là hành vi trái pháp luật. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người thực hiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứng.

Xem thêm:  Phải làm thế nào để đòi nợ khi cho vay có thế chấp?

Nói cách khác, dù khoản nợ là có thật và người vay đang vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chủ nợ vẫn phải lựa chọn phương thức đòi nợ hợp pháp; không được tự mình xâm phạm thân thể, sức khỏe hoặc quyền tự do của người vay để ép buộc thanh toán.

  • Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi công nợ khó đòi!
  • Kết nối Zalo (0587999997) để được tư vấn quy định về vay tiền và thu hồi nợ!

2. Bắt giữ người, đánh người để đòi nợ bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Khoản 5 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về trật tự công cộng. Theo đó, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

  • Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 37 Nghị định này;
  • Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm cấm, khu vực cấm liên quan đến quốc phòng, an ninh;
  • Sàm sỡ, quấy rối tình dục;
  • Khiêu dâm, kích dục ở nơi công cộng;
  • Thực hiện thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ có chủng loại hoặc chất lượng không phù hợp với loại sản phẩm đã đăng ký theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;
  • Sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ phóng, bắn, thả từ trên không các loại vật, chất gây hại hoặc chứa đựng nguy cơ gây hại khi không được phép;
  • Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

  • Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức khác hoặc tài sản đồng sở hữu của bản thân với cá nhân, tổ chức khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 44, điểm b khoản 2 Điều 46 Nghị định này;
  • Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản trái quy định của pháp luật;
  • Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc gian lận, lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;
  • Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;
  • Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác;
  • Cưỡng đoạt tài sản nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Xem thêm:  Vay tiền không trả, bỏ trốn có phải đi tù không?

Như vậy: Trường hợp hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người đánh người để đòi nợ có thể bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Nếu có hành vi dùng thủ đoạn, tạo hoàn cảnh ép buộc người khác giao tiền, tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, mức phạt có thể từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định pháp luật.

3. Bắt giữ người, đánh người để đòi nợ có bị đi tù không?

Việc người vay không trả nợ hoặc chậm trả nợ không làm phát sinh quyền cho chủ nợ được tự ý bắt giữ, khống chế hoặc đánh đập người vay. Nếu hành vi đòi nợ xâm phạm đến quyền tự do thân thể, sức khỏe của người khác và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải đối mặt với hình phạt tù.

  • Đối với hành vi bắt, giữ hoặc giam người để ép trả nợ: Người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015.

Theo quy định hiện hành: Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, thực hiện đối với từ 02 người trở lên, phạm tội nhiều lần hoặc thuộc các trường hợp tăng nặng khác thì mức hình phạt có thể từ 02 năm đến 07 năm tù. Đối với những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát; tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe thì mức hình phạt có thể lên đến 12 năm tù.

Như vậy, chỉ cần có hành vi cố ý tước đoạt hoặc hạn chế trái pháp luật quyền tự do thân thể của người khác (chẳng hạn như cưỡng ép con nợ lên xe, đưa về một địa điểm rồi không cho rời đi, khóa cửa giữ người hoặc bố trí người canh giữ nhằm buộc trả nợ…) thì tùy từng trường hợp cụ thể đã có thể đặt ra trách nhiệm hình sự. Không cần phải đợi đến khi hành vi gây “ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội” mới có thể bị xử lý hình sự.

  • Đối với hành vi đánh người để đòi nợ, nếu gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người vay: Người thực hiện có thể bị truy cứu về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
Xem thêm:  Có được thế chấp bằng quyền đòi nợ để vay vốn không?

Thông thường, hành vi gây tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngay cả khi tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, người đánh vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định như sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm; phạm tội có tổ chức; có tính chất côn đồ; thuê người gây thương tích hoặc thuộc những tình tiết định tội khác (khoản 2 Điều 134). Khung hình phạt sẽ tăng tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, số lượng người bị hại, phương thức thực hiện và hậu quả của hành vi; mức hình phạt cao nhất đối với tội này có thể đến tù chung thân.

Riêng Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ được áp dụng trong trường hợp người phạm tội bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân đối với mình hoặc người thân thích. Vì vậy, việc con nợ chậm trả, không trả nợ hoặc giữa hai bên phát sinh tranh cãi không đương nhiên là căn cứ để áp dụng Điều 135. Việc có thuộc trường hợp “kích động mạnh” hay không phải được xem xét trên cơ sở nguyên nhân, diễn biến cụ thể của vụ việc và hành vi trái pháp luật của người bị hại.

Đáng lưu ý, trong thực tế có trường hợp chủ nợ cùng lúc bắt giữ con nợ và sử dụng vũ lực, đánh đập để buộc trả tiền. Khi đó, tùy tính chất của từng hành vi, hậu quả xảy ra và các yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét trách nhiệm hình sự tương ứng đối với hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể và hành vi xâm phạm sức khỏe của người bị hại.

Như vậy: Khoản nợ dù hoàn toàn có thật và đã đến hạn thanh toán cũng không phải là căn cứ hợp pháp để chủ nợ tự ý bắt giữ hoặc đánh người vay. Chủ nợ chỉ có quyền áp dụng các biện pháp đòi nợ hợp pháp như yêu cầu thanh toán, thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện ra Tòa án. Việc dùng vũ lực, bắt giữ, khống chế người vay để ép trả nợ không những không làm cho hành vi trở nên hợp pháp mà còn có thể khiến người đòi nợ từ vị trí người có quyền trở thành người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với mức án có thể lên đến nhiều năm tù.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Chat Zalo Luật sư
Call Zalo