Trong quá trình thu hồi các khoản tiền cho vay, nhiều cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm đến bên thứ ba để hỗ trợ xử lý khoản nợ hoặc lựa chọn phương án chuyển giao khoản nợ cho chủ thể khác. Tuy nhiên, pháp luật có sự phân biệt rõ giữa dịch vụ đòi nợ thuê và hoạt động mua bán nợ. Vậy dịch vụ đòi nợ thuê, mua bán nợ có bị cấm hay không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Dịch vụ đòi nợ thuê có bị cấm không?
”Nợ” là nghĩa vụ tài sản của chủ thể này phải trả cho chủ thể khác. Nợ có thể xuất hiện trong các quan hệ dân sự khác nhau như: Quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, quan hệ cho thuê tài sản… Vì thế, nợ có thể phát sinh trong bất kỳ mối quan hệ nào. Quan hệ xã hội càng phức tạp thì nguồn gốc phát sinh nợ nần càng đa dạng. Trước hiện tượng đó, dịch vụ ”đòi nợ thuê” ra đời.
Nhiều chủ thể không thể tự đòi được khoản nợ của mình nên có nhu cầu tìm đến dịch vụ đòi nợ thuê. Vậy câu hỏi đặt ra: ”Dịch vụ đòi nợ thuê có bị cấm theo quy định của pháp luật hay không?”
Điều 6 Luật Đầu tư 2025 quy định, cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:
- Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Luật này;
- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Luật này;
- Kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Luật này;
- Kinh doanh mại dâm;
- Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người;
- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người;
- Kinh doanh pháo nổ;
- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ;
- Kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia;
- Kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật;
- Kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Như vậy: Hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê nằm trong danh mục ngành nghề CẤM đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
2. Tại sao dịch vụ đòi nợ thuê lại bị cấm?
Theo Điều 6 Luật Đầu tư 2025 nêu trên, kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là một trong những ngành nghề bị cấm kinh doanh (mục 1).
Cần phải nhìn nhận rằng, không phải đương nhiên pháp luật lại cấm kinh doanh đối với hoạt động dịch vụ đòi nợ thuê. Quy định này của pháp luật xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau và nhiều lý do khác nhau. Có thể kể đến hai lý do cơ bản như sau:
a. Hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ trên thực tế đã xuất hiện nhiều biến tướng, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức:
- Nguyên nhân chủ yếu ban đầu khiến cho ngành dịch vụ đòi nợ thuê bị cấm kinh doanh đó là quá trình đòi nợ thuê đã gây ra không ít nguy hại cho xã hội và an ninh trật tự an toàn khu vực. Trên thực tế, đã có rất nhiều ”biến tướng” của dịch vụ đòi nợ thuê, hay nói một cách chính xác là các chủ thể tiến hành đòi nợ thuê đã lợi dụng hoạt động đòi nợ của mình thực hiện các hành vi trái pháp luật. Họ đã lợi dụng việc đăng ký kinh doanh ngành nghề đòi nợ thuê để tiến hành các hoạt động đòi nợ bằng những biện pháp xã hội đi ngược với quy định của pháp luật và trái với thuần phong mỹ tục, trái đạo đức xã hội.
- Hoạt động đòi nợ thuê đã gây ra không ít nguy hại trên thực tế, phổ biến nhất là hành vi Cưỡng đoạt tài sản của người bị cho là ”mắc nợ”. Thay vì sử dụng các phương thức hợp pháp như thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án, các đối tượng này có thể áp dụng các biện pháp mang tính chất cưỡng ép như đe dọa, uy hiếp tinh thần, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây rối trật tự công cộng…, thậm chí sử dụng bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người vay và người thân của họ. Những hành vi này không chỉ làm phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện phức tạp mà còn gây tâm lý lo sợ và bất an trong xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.
b. Việc quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn:
- Hoạt động đòi nợ thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có những phương thức khó kiểm soát hoặc được thực hiện thông qua các cá nhân trung gian. Điều này gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giám sát hoạt động kinh doanh, xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan cũng như phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
- Bên cạnh đó, việc phân biệt giữa hoạt động đòi nợ hợp pháp và hành vi đòi nợ mang tính chất cưỡng ép, đe dọa cũng gặp nhiều khó khăn; đặc biệt trong trường hợp các đối tượng cố tình che giấu hành vi vi phạm dưới danh nghĩa cung cấp dịch vụ thu hồi nợ.
Như vậy: Việc pháp luật cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê nhằm hạn chế những hệ lụy tiêu cực phát sinh từ hoạt động này, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời góp phần duy trì an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
3. Dịch vụ mua bán nợ có bị cấm không?
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 thì tài sản bao gồm:
- Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
- Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài khoản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Trong đó, Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền tài sản như sau: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Đồng thời, tại Điều 450 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định:
- Trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua phải trả tiền cho bên bán;
- Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả;
- Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.
Theo đó, quyền đòi nợ cũng là một trong những hình thức của ”mua bán quyền tài sản”.
Ngoài ra, Điều 7 Thông tư 31/2025/TT-NHNN thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có quy định mới về hoạt động mua bán nợ của công ty quản lý nợ. Theo đó, công ty quản lý nợ thực hiện quản lý nợ, khai thác tài sản quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Thông tư này đối với các khoản nợ là:
- Khoản nợ quá hạn, khoản nợ xấu bao gồm nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán, nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán, khoản nợ đã xuất toán ra khỏi ngoại bảng theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (sau đây gọi là khoản nợ xấu);
- Khoản nợ mà Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam ủy quyền cho Bên ủy quyền;
- Công ty quản lý nợ thực hiện quản lý nợ, khai thác tài sản đối với khoản nợ mà Công ty quản lý tài sản của tổ chức tín dụng Việt Nam ủy quyền cho Bên ủy quyền theo quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, phù hợp với quy định về ủy quyền lại tại Bộ luật Dân sự;
- Công ty quản lý nợ thực hiện mua, bán các khoản nợ quy định tại khoản 4 Điều 4 phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính là khoản nợ quá hạn, khoản nợ xấu.
Như vậy: Khác với dịch vụ đòi nợ thuê, hoạt động mua bán nợ KHÔNG còn bị pháp luật cấm nếu được thực hiện đúng quy định. Đây là một giao dịch dân sự, thương mại được pháp luật thừa nhận, trong đó bên có quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ (chủ nợ) có thể chuyển giao quyền đòi nợ của mình cho một cá nhân, tổ chức khác thông qua hợp đồng mua bán nợ.
4. Hành vi kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê bị phạt như thế nào?
Theo như phân tích ở trên, hành vi ”kinh doanh dịch vụ đòi nợ” là một trong những ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh. Do đó các chủ thể khi có hành vi vi phạm thì sẽ bị xử phạt theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 7 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định về mức xử phạt đối với hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh như sau:
- Phạt tiền từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng đối với hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh;
- Hình phạt bổ sung có thể bị áp dụng đó là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định pháp luật;
- Biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp này là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định pháp luật.
5. Kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Nếu các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê mà đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự thì hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo từng điều luật khác nhau.
Hoạt động dịch vụ đòi nợ thuê (như phân tích ở trên) có thể kéo theo rất nhiều rủi ro và rất nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Nhìn chung, trong quá trình kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê thì các chủ thể có thể bị truy cứu về các tội chủ yếu sau:
- (1) Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015: Các chủ thể đòi nợ thuê có thể sử dụng hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác uy hiếp nên tinh thần của con nợ. Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng và sức khỏe nếu không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Còn các hành vi khác uy hiếp về tinh thần là hành vi dọa gây thiệt hại về tài sản cũng như danh dự uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Những hành vi này xét về tính chất cũng giống như hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực vì cùng có khả năng không chế ý chí của người bị đe dọa. Người phạm tội thực hiện hành vi này với lỗi cố ý với mục đích phạm tội được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu không nhầm mục đích chiếm đoạt tài sản thì các hành vi này sẽ không phải là hành vi cưỡng đoạt tài sản.
- (2) Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015: Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi gây rối trật tự công cộng. Hành vi gây rối trật tự công cộng là hành vi phá vỡ tình trạng ổn định hoặc phá vỡ tính có tổ chức và tính có kỷ luật. Hành vi đó có thể là lời nói chửi bới hoặc la hét thậm chí là đập phá tài sản tạo ra những âm thanh ầm ĩ bằng các công cụ khác nhau … Hậu quả của tội phạm là ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội như gây tắc nghẽn giao thông, làm gián đoạn hoạt động của các chủ thể … Lỗi của các chủ thể này được xác định là lỗi cố ý.
Ngoài ra, đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn các cấu thành tội phạm của loại tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (như Tội xâm phạm chỗ ở của người khác; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…).
