Trong cuộc sống, không ít người trở thành đối tượng của những cuộc gọi, tin nhắn đòi nợ dù bản thân chưa từng vay tiền hay ký kết bất kỳ hợp đồng tín dụng nào. Việc này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và công việc của người bị làm phiền. Vậy phải làm gì khi không vay tiền vẫn bị khủng bố, làm phiền?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Phải làm gì khi không vay tiền vẫn bị khủng bố, làm phiền?
- Thời gian qua, tình trạng người không vay tiền nhưng liên tục bị các ứng dụng cho vay hoặc đơn vị thu hồi nợ gọi điện, nhắn tin làm phiền; thậm chí xúc phạm, đe dọa, bôi nhọ danh dự đang gây nhiều bức xúc. Đáng chú ý, nhiều trường hợp chỉ vì có tên hoặc số điện thoại trong danh bạ của người vay mà bị kéo vào quá trình đòi nợ dù hoàn toàn không có nghĩa vụ đối với khoản vay này.
- Đây là hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; đồng thời có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự, hành chính hoặc hình sự.
- Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân về nguyên tắc phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Bên cạnh đó, Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình và yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định.
Vậy, trường hợp không vay tiền nhưng vẫn bị những đối tượng khủng bố tinh thần đòi nợ, cần bình tĩnh và thực hiện theo các quy trình như sau:
- Bước 1: Chặn cuộc gọi, tin nhắn làm phiền. Người bị làm phiền có thể sử dụng tính năng chặn cuộc gọi và tin nhắn được tích hợp trên điện thoại để ngăn các số điện thoại thường xuyên gọi, nhắn tin đòi nợ. Nếu các đối tượng liên tục thay đổi số điện thoại, có thể sử dụng tính năng lọc hoặc chặn cuộc gọi từ số không có trong danh bạ tùy theo hệ điều hành và thiết bị đang sử dụng. Đây là giải pháp giúp hạn chế đáng kể các cuộc gọi không mong muốn. Đối với mạng xã hội, người dùng cũng nên tăng cường cài đặt quyền riêng tư, chẳng hạn giới hạn người được bình luận, nhắn tin hoặc gắn thẻ trên trang cá nhân; hạn chế người lạ tiếp cận thông tin cá nhân và tránh công khai số điện thoại, địa chỉ hoặc các thông tin nhạy cảm trên mạng xã hội.
- Bước 2: Lưu giữ lại toàn bộ bằng chứng. Người bị làm phiền cần chủ động thu thập và lưu giữ chứng cứ như: chụp màn hình tin nhắn, lưu số điện thoại, ghi âm cuộc gọi theo quy định pháp luật, lưu hình ảnh hoặc nội dung bị đăng tải trên mạng xã hội, ghi nhận thời gian, tần suất và nội dung của các cuộc gọi, tin nhắn có tính chất đe dọa, xúc phạm. Trong trường hợp cần thiết, người bị xâm phạm có thể lập vi bằng đối với những nội dung, sự kiện có thể được ghi nhận bằng ”vi bằng” để củng cố chứng cứ. Đây có thể là cơ sở quan trọng khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền hoặc thực hiện các thủ tục khiếu nại, tố cáo, khởi kiện.
- Bước 3: Người bị làm phiền nên liên hệ với tổ chức tín dụng, công ty tài chính hoặc đơn vị đang thực hiện việc thu hồi nợ để yêu cầu xác minh khoản vay. Nếu không phải là người vay hoặc không có nghĩa vụ trả nợ, cần thông báo rõ sự việc, yêu cầu chấm dứt việc liên hệ trái pháp luật và cung cấp các chứng cứ đã thu thập để chứng minh mình không phải người có nghĩa vụ. Riêng đối với trường hợp bị xúc phạm, bôi nhọ, vu khống hoặc đe dọa trên mạng xã hội, người bị xâm phạm có thể gửi đơn trình báo, tố giác hoặc khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi, để được xem xét, ngăn chặn và xử lý theo quy định.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
Khi trình báo, nên chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ liên quan như:
- Đơn trình báo hoặc đơn tố giác;
- Giấy tờ tùy thân của người trình báo;
- Lịch sử cuộc gọi, tin nhắn, email;
- Bản ghi âm, hình ảnh, video hoặc ảnh chụp màn hình có liên quan;
- Thông tin về số điện thoại, tài khoản mạng xã hội hoặc tổ chức, cá nhân đã thực hiện hành vi;
- Các tài liệu chứng minh mình không phải là người vay hoặc không có nghĩa vụ đối với khoản nợ, nếu có.
2. Tại sao không vay tiền nhưng vẫn bị khủng bố, làm phiền?
Không vay tiền nhưng liên tục nhận cuộc gọi, tin nhắn đòi nợ là tình huống khiến nhiều người bức xúc và hoang mang. Thực tế, tình trạng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phổ biến là:
2.1. Thông tin cá nhân bị rò rỉ hoặc bị đánh cắp:
- Trong quá trình sử dụng mạng xã hội, đăng ký dịch vụ trực tuyến, mua sắm hoặc thực hiện các giao dịch trên môi trường số, thông tin cá nhân có thể bị thu thập, làm lộ hoặc sử dụng không đúng mục đích.
- Bên cạnh đó, việc làm thất lạc giấy tờ tùy thân như căn cước công dân, hộ chiếu… cũng có thể khiến thông tin cá nhân bị người khác lợi dụng.
- Khi có được các thông tin này, đối tượng xấu có thể sử dụng trái phép để đăng ký khoản vay, mở tài khoản hoặc thực hiện các giao dịch mà chính chủ không hề biết. Sau đó, khi phát sinh nghĩa vụ thanh toán, người có thông tin bị sử dụng có thể bất ngờ trở thành đối tượng bị liên hệ, đòi nợ.
2.2. Thông tin bị lợi dụng từ các khoản vay trước đó:
- Những người từng vay tín chấp, vay trả góp hoặc sử dụng các dịch vụ tài chính thường phải cung cấp nhiều thông tin cá nhân cho tổ chức tín dụng, công ty tài chính.
- Nếu thông tin này bị thu thập, sử dụng hoặc khai thác trái phép, kẻ xấu có thể lợi dụng để giả mạo danh tính, tạo lập hồ sơ vay hoặc thực hiện các hành vi gian dối khác. Khi đó, người không thực hiện khoản vay thực tế vẫn có thể bị gọi điện, nhắn tin yêu cầu thanh toán.
2.3. Khoản vay cũ chưa được tất toán hoàn toàn:
- Một số trường hợp người vay cho rằng mình đã thanh toán đầy đủ nhưng trên hệ thống của tổ chức tín dụng vẫn còn phát sinh lãi, phí hoặc một khoản nghĩa vụ chưa được thanh toán, dẫn đến khoản vay chưa được tất toán.
- Trong trường hợp này, người nhận được thông báo đòi nợ cần kiểm tra lại hợp đồng, lịch sử thanh toán và tình trạng tất toán khoản vay với tổ chức tín dụng để xác định chính xác nguyên nhân.
- Nếu đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ nhưng vẫn bị yêu cầu thanh toán, cần yêu cầu đơn vị cho vay kiểm tra, đối soát và giải thích rõ khoản tiền còn tồn đọng.
3. Gọi điện khủng bố, làm phiền người khác dù không vay tiền xử lý như thế nào?
Gọi điện khủng bố, đe dọa hay tung ảnh bôi nhọ người khác trên các diễn đàn nhằm đòi nợ mặc dù người đó không vay tiền có thể vi phạm các tội sau:
a. Tội cưỡng đoạt tài sản:
- Tùy theo tính chất, mức độ phạm tội mà người phạm Tội cưỡng đoạt tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với các khung hình phạt nêu trên, có mức phạt tù từ 01 năm đến 20 năm tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra (Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015).
- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
b. Tội làm nhục người khác:
- Trường hợp người gọi điện, nhắn tin không nhằm mục đích cưỡng đoạt tài sản mà nhằm mục đích bôi nhọ người khác, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì hành vi này cấu thành Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.
- Việc sử dụng mạng viễn thông để làm nhục, tung ảnh bôi nhọ người khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 với mức phạt tù từ 03 tháng đến 5 năm tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra.
- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
c. Tội vu khống:
- Trường hợp gọi điện nhằm vu khống cá nhân, tổ chức có hành vi chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội vu khống với mức phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vu khống và hậu quả xảy ra theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015.
- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
