Hướng dẫn giải quyết tranh chấp khi bị vỡ hụi, giật họ

Họ, hụi là hình thức góp vốn phổ biến dựa nhiều vào sự tin tưởng giữa những người tham gia. Tuy nhiên, khi xảy ra tình trạng vỡ hụi, giật họ, người tham gia có thể đứng trước nguy cơ mất tiền và gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi tài sản. Vậy khi bị vỡ hụi, giật họ cần xử lý như thế nào để bảo vệ quyền lợi hợp pháp?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp khi bị vỡ hụi, giật họ:

Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

  • Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên;
  • Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật;
  • Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi.

Họ, hụi, biêu, phường (hay còn được gọi tắt là “họ”) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người về số người tham gia, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, cách thức góp họ, lĩnh họ cũng như quyền và nghĩa vụ của các thành viên.

Pháp luật thừa nhận việc tổ chức họ với mục đích tương trợ trong nhân dân. Tuy nhiên, nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức họ để cho vay nặng lãi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Hiện nay, các vấn đề cụ thể về điều kiện tham gia họ, quyền và nghĩa vụ của chủ họ, thành viên, lãi suất, trách nhiệm khi không giao hoặc không góp phần họ và giải quyết tranh chấp được điều chỉnh trực tiếp tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ. Nghị định số 19/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/4/2019 và hiện vẫn là văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh quan hệ họ, hụi, biêu, phường.

Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định:

  • Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật;
  • Chủ họ, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về họ.

Như vậy: Khi xảy ra vỡ hụi, giật họ, tùy vào bản chất của vụ việc, người bị thiệt hại có thể lựa chọn hoặc áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp như sau:

  • Thương lượng, yêu cầu chủ hụi xác nhận công nợ và thanh toán;
  • Hòa giải giữa các bên;
  • Khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ hoàn trả tiền;
  • Tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền;
  • Yêu cầu xử lý hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thương lượng hoặc hòa giải theo Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP nêu trên là chỉ một trong những phương thức giải quyết tranh chấp, không có nghĩa tất cả tranh chấp về hụi đều bắt buộc phải hòa giải thành công trước khi được khởi kiện ra Tòa án. Hay nói cách khác, hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện tại Tòa án đối với quan hệ tranh chấp này.

  • Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
  • Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!

2. Đánh giá các phương thức giải quyết tranh chấp khi bị vỡ hụi, giật họ:

2.1. Thương lượng, yêu cầu chủ hụi xác nhận công nợ và thanh toán:

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở các bên tự trao đổi, thống nhất với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ mà không có sự can thiệp của Cơ quan nhà nước hoặc bên thứ ba. Khi xảy ra vỡ hụi hoặc giật họ, người bị thiệt hại có thể yêu cầu chủ hụi hoặc người có nghĩa vụ thanh toán xác nhận bằng văn bản về số tiền còn nợ, thời hạn thanh toán, phương thức trả nợ và các cam kết liên quan… Văn bản xác nhận công nợ có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi nhận nghĩa vụ của bên nợ, đồng thời là nguồn chứng cứ nếu sau này phát sinh tranh chấp tại Tòa án. 

  • Ưu điểm: Thương lượng là phương thức có chi phí thấp, thời gian giải quyết nhanh và thủ tục đơn giản. Các bên được chủ động quyết định nội dung thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi trình tự và thủ tục tố tụng. Việc giải quyết thông qua thương lượng còn góp phần duy trì quan hệ giữa các bên, đặc biệt trong trường hợp các hụi viên có quan hệ thân quen hoặc cùng sinh sống trong một cộng đồng. Nếu đạt được thỏa thuận và có văn bản xác nhận công nợ, đây sẽ là căn cứ quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại trong trường hợp bên có nghĩa vụ không tiếp tục thực hiện cam kết. 
  • Nhược điểm: Hiệu quả của thương lượng phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của bên có nghĩa vụ. Nếu chủ hụi hoặc người nợ cố tình trốn tránh, không hợp tác hoặc không còn khả năng thanh toán thì việc thương lượng thường không mang lại kết quả. Bên cạnh đó, thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng không có cơ chế cưỡng chế thi hành; nếu bên vi phạm không tự nguyện thực hiện thì người bị thiệt hại vẫn phải khởi kiện hoặc áp dụng các biện pháp pháp lý khác để bảo vệ quyền lợi của mình. 
Xem thêm:  Bị chủ nợ thuê xã hội đen đòi nợ thì phải làm thế nào?

2.2. Hòa giải giữa các bên:

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của một bên thứ ba trung lập; như hòa giải viên, tổ hòa giải ở cơ sở hoặc tổ chức hòa giải theo quy định của pháp luật. Bên hòa giải không có quyền đưa ra quyết định bắt buộc mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ các bên trao đổi, tháo gỡ mâu thuẫn và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Nội dung hòa giải có thể bao gồm việc xác định số tiền còn nợ, thời hạn trả nợ, phương thức thanh toán hoặc các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. 

  • Ưu điểm: So với thương lượng trực tiếp, hòa giải có sự tham gia của bên thứ ba khách quan nên giúp hạn chế căng thẳng, tạo điều kiện để các bên đạt được sự đồng thuận. Phương thức này có chi phí thấp, linh hoạt, bảo đảm tính bảo mật và góp phần giữ gìn mối quan hệ giữa các bên. Trong nhiều trường hợp, hòa giải thành giúp các bên tránh được việc phải khởi kiện, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng.
  • Nhược điểm: Kết quả hòa giải chỉ có giá trị khi các bên tự nguyện thực hiện. Trường hợp hòa giải ngoài tố tụng, biên bản hòa giải thành không có giá trị cưỡng chế thi hành như bản án hoặc quyết định của Tòa án. Nếu bên có nghĩa vụ tiếp tục không thực hiện cam kết thì người bị thiệt hại vẫn phải khởi kiện hoặc sử dụng các biện pháp pháp lý khác. Ngoài ra, hòa giải cũng khó đạt hiệu quả khi tranh chấp đã trở nên gay gắt hoặc có dấu hiệu của hành vi phạm tội.

2.3. Khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ hoàn trả tiền:

Khởi kiện vụ án dân sự là việc người bị thiệt hại yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ hụi và buộc người có nghĩa vụ hoàn trả số tiền còn nợ theo quy định của pháp luật. Đây là phương thức được áp dụng khi thương lượng và hòa giải không đạt kết quả hoặc khi người vi phạm không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sẽ xem xét chứng cứ, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên; từ đó ban hành bản án hoặc quyết định có giá trị bắt buộc thi hành.

  • Ưu điểm: Đây là phương thức có hiệu quả pháp lý cao vì bản án hoặc quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các bên. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật. Quá trình tố tụng tại Tòa án cũng giúp xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trên cơ sở chứng cứ khách quan, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
  • Nhược điểm: Việc khởi kiện đòi hỏi người khởi kiện phải chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chứng minh yêu cầu của mình, đồng thời phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Thời gian giải quyết có thể kéo dài, đặc biệt đối với các vụ việc có nhiều đương sự hoặc có tranh chấp phức tạp về chứng cứ. Mặc dù bản án có giá trị cưỡng chế thi hành nhưng trong trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản hoặc cố tình tẩu tán tài sản thì việc thu hồi tiền vẫn có thể gặp nhiều khó khăn.
Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện đòi nợ khó đòi gửi Toà án nhân dân

2.4. Tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền:

Khi có căn cứ cho rằng chủ hụi hoặc người tham gia hụi đã thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản, bỏ trốn sau khi nhận tiền hoặc có các dấu hiệu khác của hành vi phạm tội, người bị thiệt hại có quyền tố giác đến Cơ quan điều tra hoặc cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa trường hợp chỉ mất khả năng thanh toán do khó khăn về tài chính với trường hợp ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng các thủ đoạn gian dối. Và không phải mọi trường hợp vỡ hụi đều có dấu hiệu của vụ án hình sự. 

  • Ưu điểm: Việc tố giác giúp cơ quan tiến hành tố tụng kịp thời xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật nhằm hạn chế việc bỏ trốn hoặc tẩu tán tài sản của người vi phạm. Nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, việc xử lý hình sự không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi của nhiều người bị hại trong cùng một vụ việc. Trong vụ án hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự cũng có thể được xem xét cùng với việc giải quyết trách nhiệm hình sự.
  • Nhược điểm: Biện pháp này chỉ được áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm; không thể sử dụng tố giác hình sự để thay thế việc giải quyết tranh chấp dân sự thông thường. Thời gian xác minh, điều tra và xét xử có thể kéo dài, đặc biệt trong các vụ việc có nhiều người bị hại hoặc số tiền chiếm đoạt lớn. Bên cạnh đó, việc xử lý hình sự không đồng nghĩa với việc người bị hại chắc chắn sẽ thu hồi được toàn bộ số tiền đã mất, đặc biệt là khi người phạm tội không còn tài sản để bồi thường. 

2.5. Yêu cầu xử lý hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính:

Trong trường hợp hành vi vi phạm quy định về tổ chức, quản lý hoặc thực hiện hoạt động hụi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, người bị thiệt hại có thể đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét xử lý. Việc xử phạt hành chính nhằm bảo đảm trật tự quản lý nhà nước đối với hoạt động hụi và xử lý các hành vi vi phạm chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

  • Ưu điểm: Xử lý hành chính là biện pháp có thủ tục tương đối đơn giản và thời gian giải quyết thường nhanh hơn so với tố tụng dân sự hoặc hình sự. Việc áp dụng các chế tài hành chính có tác dụng răn đe, giáo dục người vi phạm và góp phần ngăn ngừa các hành vi vi phạm tiếp tục xảy ra. Trong một số trường hợp, kết quả xử lý hành chính còn là nguồn tài liệu tham khảo hoặc chứng cứ hỗ trợ cho việc giải quyết tranh chấp dân sự hoặc hình sự sau này.
  • Nhược điểm: Mục đích của xử phạt vi phạm hành chính là xử lý hành vi vi phạm đối với Nhà nước chứ không nhằm trực tiếp bảo đảm việc hoàn trả tài sản cho người bị thiệt hại. Vì vậy, ngay cả khi người vi phạm bị xử phạt hành chính thì nghĩa vụ hoàn trả tiền vẫn phải được giải quyết thông qua thỏa thuận hoặc bằng một vụ án dân sự. Do đó, đây chỉ là biện pháp bổ trợ, không thể thay thế các cơ chế bảo vệ quyền tài sản của người bị thiệt hại.

3. Trách nhiệm của chủ hụi khi cố tình không giao hụi, giật họ:

Điều 23 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của chủ họ do không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ thì chủ họ có trách nhiệm đối với thành viên đó như sau: 

  • Thực hiện đúng nghĩa vụ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 18 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP;
  • Trả lãi đối với số tiền chậm giao cho thành viên được lĩnh họ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP;
  • Chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của Bộ luật Dân sự;
  • Bồi thường thiệt hại (nếu có).
Xem thêm:  Hành vi đe doạ và tấn công chủ nợ sẽ bị xử lý thế nào?

Và Điều 22 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định: Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ, thành viên chưa lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm góp hoặc chậm giao phần họ được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả, nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả.

Vì vậy, khi khởi kiện chủ hụi thì người bị thiệt hại không nhất thiết chỉ yêu cầu trả lại số tiền gốc mà tùy từng trường hợp còn có thể yêu cầu những khoản tiền sau:

  • Tiền hụi còn nợ;
  • Tiền lãi do chậm thanh toán;
  • Tiền phạt vi phạm theo thỏa thuận;
  • Khoản bồi thường thiệt hại thực tế nếu có căn cứ.

4. Những lưu ý khi giải quyết tranh chấp khi bị vỡ hụi, giật họ:

  • Thứ nhất, cần phân biệt rõ giữa vỡ hụi do mất khả năng thanh toán và hành vi giật hụi có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản. Bởi không phải mọi trường hợp chủ hụi không trả được tiền đều bị xử lý hình sự. Nếu chủ hụi chỉ gặp khó khăn tài chính, mất khả năng thanh toán nhưng không có hành vi gian dối hoặc mục đích chiếm đoạt thì vụ việc chủ yếu được giải quyết theo thủ tục dân sự. Ngược lại, nếu có dấu hiệu gian dối ngay từ đầu như tạo dây hụi giả, khai khống thành viên, nhận tiền rồi bỏ trốn hoặc có hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản… thì người bị thiệt hại có thể xem xét tố giác đến cơ quan có thẩm quyền.
  • Thứ hai, cần nhanh chóng thu thập và bảo quản đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc tham gia hụi. Người bị thiệt hại nên lưu giữ sổ hụi, giấy nhận tiền, biên nhận, sao kê ngân hàng, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, nội dung trao đổi trên mạng xã hội, file ghi âm, giấy xác nhận công nợ và các tài liệu khác chứng minh số tiền đã góp hoặc số tiền chủ hụi còn phải thanh toán. Đối với dữ liệu điện tử thì cá nhân nên sao lưu càng sớm càng tốt để tránh trường hợp tin nhắn bị thu hồi, tài khoản bị khóa hoặc dữ liệu bị mất.
  • Thứ ba, yêu cầu chủ hụi xác nhận công nợ bằng văn bản nếu vẫn còn khả năng liên hệ. Việc lập giấy xác nhận nợ, biên bản đối chiếu công nợ hoặc cam kết thanh toán có thể tạo ra chứng cứ quan trọng cho quá trình giải quyết tranh chấp sau này. Văn bản nên ghi cụ thể số tiền còn nợ, căn cứ phát sinh khoản nợ, thời hạn và phương thức thanh toán, tránh chỉ thỏa thuận miệng hoặc tiếp tục tin vào những lời hứa không có căn cứ.
  • Thứ tư, cần lựa chọn đúng phương thức giải quyết phù hợp với bản chất của vụ việc. Nếu tranh chấp chủ yếu liên quan đến nghĩa vụ trả tiền, giao phần hụi hoặc thanh toán công nợ thì có thể ưu tiên thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án. Nếu có dấu hiệu gian dối, bỏ trốn, chiếm đoạt hoặc huy động vốn trái pháp luật thì cần xem xét gửi đơn tố giác đến cơ quan có thẩm quyền. Việc xác định đúng hướng xử lý ngay từ đầu giúp tránh mất thời gian và hạn chế tình trạng hồ sơ bị chuyển qua lại giữa các cơ quan.
  • Thứ năm, trường hợp có nhiều người cùng bị thiệt hại cần thống nhất việc tổng hợp thông tin và chứng cứ nhưng vẫn phải xác định riêng quyền lợi của từng người. Mỗi người tham gia hụi nên có bảng kê riêng về số tiền đã đóng, đã nhận và còn bị nợ, đồng thời lưu giữ chứng cứ chứng minh giao dịch của mình. Việc lập danh sách chung những người bị thiệt hại là cần thiết để phản ánh quy mô vụ việc nhưng không thay thế cho chứng cứ chứng minh thiệt hại cụ thể của từng người.
  • Thứ sáu, không nên tự ý chiếm giữ, lấy hoặc xử lý tài sản của chủ hụi để trừ nợ. Dù chủ hụi đang có nghĩa vụ thanh toán thì người bị thiệt hại cũng không được tự ý lấy tài sản, phá khóa, giữ xe, chiếm giữ nhà đất hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật khác để thu hồi tiền. Những hành vi này có thể làm phát sinh tranh chấp mới hoặc thậm chí khiến chính người đòi nợ phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo