Trong thực tiễn, không ít trường hợp bên cho vay vì tin tưởng, nể nang hoặc nhiều lần gia hạn thời gian trả nợ nên không khởi kiện ngay khi quyền lợi bị xâm phạm. Đến khi muốn yêu cầu Tòa án giải quyết thì mới phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết. Vậy, hết thời hiệu khởi kiện vay tài sản có đòi nợ được không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Hết thời hiệu khởi kiện vay tài sản có đòi nợ được không?
1.1. Đối với nợ gốc:
Một trong những vấn đề thường gây nhầm lẫn trong thực tiễn là việc hết thời hiệu khởi kiện có đồng nghĩa với việc mất quyền đòi nợ hay không. Thực tế, cần phân biệt giữa thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng và quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản.
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng được quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Theo quy định này, đối với hợp đồng vay tài sản, nếu bên vay đến hạn nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bên cho vay có thời hạn 03 năm để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng. Hết thời hạn này, về nguyên tắc, bên vay có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu theo quy định của pháp luật nếu đáp ứng các điều kiện luật định.
Tuy nhiên, việc hết thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng không đồng nghĩa với việc bên cho vay đương nhiên mất quyền đòi lại tài sản. Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện, trong đó có:
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;
- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác;
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai;
- Trường hợp khác do luật quy định.
Quy định này thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu của chủ thể trong pháp luật dân sự. Theo đó, đối với những yêu cầu nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản thì pháp luật không giới hạn thời hiệu khởi kiện, ngoại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với quan hệ vay tài sản, khi bên vay nhận tiền hoặc tài sản của bên cho vay thì quyền sở hữu đối với khoản tiền đó được chuyển giao cho bên vay; đồng thời phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại, đúng số lượng, chất lượng khi đến hạn. Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc đòi lại khoản tiền gốc cho vay chủ yếu được xem xét trên cơ sở nghĩa vụ hoàn trả tài sản mà không chỉ đơn thuần là ”tranh chấp về hợp đồng”.
Do đó, mặc dù thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản có thể đã hết nhưng điều này không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả nợ của bên vay chấm dứt. Bên cho vay vẫn có quyền yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc thông qua thương lượng, hòa giải hoặc các phương thức khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy: Khi thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản đã hết, bên cho vay vẫn CÓ QUYỀN khởi kiện yêu cầu bên vay hoàn trả khoản tiền NỢ GỐC. Lý do là yêu cầu đòi lại tài sản thuộc phạm vi bảo vệ quyền sở hữu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, đây là trường hợp pháp luật quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, yêu cầu hoàn trả khoản nợ gốc không bị hạn chế bởi thời hiệu khởi kiện.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
1.2. Đối với nợ lãi:
Khác với khoản nợ gốc (mục 1.1), yêu cầu thanh toán tiền lãi phát sinh từ hợp đồng vay là một nội dung của tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do đó, yêu cầu này phải tuân thủ quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Cũng theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu buộc bên vay thanh toán tiền lãi trong hợp đồng, bao gồm lãi vay theo thỏa thuận hoặc lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đều là yêu cầu phát sinh từ quan hệ hợp đồng. Vì vậy, nếu bên cho vay khởi kiện sau khi thời hiệu 03 năm đã hết và bên vay có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì yêu cầu đòi tiền lãi không được Tòa án giải quyết.
Điều này xuất phát từ việc tiền lãi không phải là đối tượng của quyền sở hữu độc lập mà là quyền tài sản phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng vay. Do đó, tiền lãi không thuộc trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 để được loại trừ việc áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Như vậy: Trong trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện, nếu bên vay yêu cầu áp dụng thời hiệu thì bên cho vay chỉ có thể bảo vệ quyền lợi đối với khoản nợ gốc theo quan điểm áp dụng khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự, còn yêu cầu thanh toán tiền lãi sẽ không còn cơ sở để Tòa án xem xét do đã hết thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng.
2. Thời gian nào không được tính vào thời hiệu khởi kiện vay tài sản?
Không phải mọi khoảng thời gian đều được tính vào thời hiệu khởi kiện. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong những trường hợp khách quan hoặc bất khả kháng, pháp luật quy định một số khoảng thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Cụ thể, theo Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
(1) Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Cụ thể:
- Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;
- Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
(2) Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
(3) Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
- Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;
- Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
3. Những lưu ý về thời hiệu khởi kiện khi cho vay tài sản:
Để tránh mất lợi thế pháp lý khi phát sinh tranh chấp, bên cho vay cần lưu ý một số vấn đề quan trọng liên quan đến thời hiệu khởi kiện sau đây:
3.1. Cần xác định đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu:
Việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có ý nghĩa quyết định đến việc còn hay hết thời hiệu khởi kiện. Nếu hợp đồng có thời hạn trả nợ, thời hiệu thường được tính từ ngày tiếp theo ngày đến hạn trả nợ mà bên vay không thanh toán.
Nếu các bên gia hạn thời hạn trả nợ, thời hiệu được tính lại từ thời điểm hết thời hạn gia hạn. Nếu hợp đồng không xác định thời hạn vay, bên cho vay có quyền yêu cầu trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay trong một thời gian hợp lý. Khi hết thời gian báo trước mà bên vay không thanh toán thì đây thường là thời điểm quyền lợi của bên cho vay bị xâm phạm để xác định thời hiệu.
2.2. Hết thời hiệu không đồng nghĩa với việc đương nhiên mất quyền khởi kiện:
Nhiều người cho rằng hết thời hiệu thì Tòa án sẽ từ chối nhận đơn khởi kiện. Đây là cách hiểu chưa chính xác.
Theo Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Tòa án vẫn có thể thụ lý vụ án nếu đơn khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định. Vấn đề thời hiệu chỉ được Tòa án xem xét khi người được hưởng quyền về thời hiệu có yêu cầu áp dụng và yêu cầu này được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
Do đó, trong nhiều trường hợp mặc dù đã hết thời hiệu nhưng nếu bên vay không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
3.3. Lưu giữ đầy đủ chứng cứ về việc vay và trả nợ:
Để bảo vệ quyền lợi khi khởi kiện, bên cho vay cần lưu giữ đầy đủ các tài liệu chứng minh quan hệ vay tài sản, như:
- Hợp đồng vay hoặc giấy vay tiền;
- Giấy biên nhận giao tiền;
- Chứng từ chuyển khoản ngân hàng;
- Tin nhắn, email, ghi âm thể hiện việc vay tiền hoặc cam kết trả nợ;
- Giấy xác nhận công nợ;
- Văn bản gia hạn thời hạn trả nợ hoặc thỏa thuận trả dần.
Đây là những chứng cứ quan trọng để chứng minh yêu cầu khởi kiện cũng như xác định thời điểm phát sinh và thời hiệu của tranh chấp.
