Trong các giao dịch vay vốn, bên vay có thể sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, không chỉ tài sản hữu hình mà một số quyền tài sản cũng có thể được sử dụng làm biện pháp bảo đảm nếu đáp ứng điều kiện pháp luật. Vậy, có được thế chấp bằng quyền đòi nợ để vay vốn hay không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586
Số điện thoại Luật sư: 058.7999997
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Quyền đòi nợ có được xem là tài sản không?
Trước hết, Điều 14 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định về quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng như sau: Bên có quyền trong hợp đồng được dùng quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác; quyền khai thác, quản lý dự án đầu tư; quyền cho thuê, cho thuê lại; quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, lợi ích khác trị giá được bằng tiền hình thành từ hợp đồng; quyền được bồi thường thiệt hại; quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Theo quy định này, “quyền đòi nợ” là một trong những quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, có thể xác định được giá trị bằng tiền và được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Đồng thời, Điều 450 Bộ Luật Dân sự 2015 cho phép quyền đòi nợ trở thành đối tượng của giao dịch mua bán. Cụ thể, Điều luật này quy định về mua bán quyền tài sản như sau:
- Trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua phải trả tiền cho bên bán;
- Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả;
- Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.
Như vậy: Quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản và ĐƯỢC coi là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do có thể xác định được giá trị bằng tiền, quyền đòi nợ không chỉ có thể được chuyển giao, mua bán mà còn có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Hay nói cách khác, quyền đòi nợ tuy không phải là tài sản hữu hình như nhà, đất, phương tiện hay hàng hóa… nhưng vẫn có giá trị kinh tế và được pháp luật bảo vệ với tư cách là một loại tài sản vô hình đặc biệt.

- Gọi 058.7999997 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi nợ khó đòi!
- Kết nối Zalo (058.7999997) để được tư vấn về thủ tục khởi kiện đòi nợ!
2. Có được thế chấp bằng quyền đòi nợ để vay vốn không?
Trước hết, Điều 317 Bộ Luật Dân sự 2015 về thế chấp tài sản như sau: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Theo đó, điều kiện cơ bản để một tài sản được sử dụng làm tài sản thế chấp là:
- Tài sản đó phải thuộc quyền hợp pháp của bên thế chấp;
- Và được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nhất định.
Đồng thời, Điều 14 Nghị định 21/2021/NĐ-CP về quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng: Bên có quyền trong hợp đồng được dùng quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác; quyền khai thác, quản lý dự án đầu tư; quyền cho thuê, cho thuê lại; quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, lợi ích khác trị giá được bằng tiền hình thành từ hợp đồng; quyền được bồi thường thiệt hại; quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Pháp luật đã ghi nhận rõ quyền đòi nợ, khoản phải thu và các quyền yêu cầu thanh toán khác là những quyền tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, chủ thể đang có quyền đòi nợ hợp pháp có thể dùng chính quyền tài sản này để thế chấp nhằm bảo đảm cho khoản vay hoặc nghĩa vụ dân sự khác.
Và Điều 33 Nghị định 21/2021/NĐ-CP còn quy định cụ thể về việc thế chấp quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác như sau: Việc thế chấp bằng quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ nhưng người này phải được bên nhận thế chấp thông báo để biết trước khi thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo đó, khi chủ nợ sử dụng quyền đòi nợ của mình làm tài sản thế chấp thì không bắt buộc phải có sự đồng ý của người đang có nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ được rõ ràng và đúng chủ thể, người có nghĩa vụ phải được bên nhận thế chấp thông báo về việc quyền đòi nợ đã được dùng làm tài sản bảo đảm trước khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Như vậy: Bên thế chấp CÓ THỂ sử dụng quyền đòi nợ để thế chấp vay vốn. Bên có quyền đòi nợ có thể dùng quyền tài sản thuộc quyền hợp pháp của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay. Việc thế chấp quyền đòi nợ không cần sự chấp thuận của người có nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, bên nhận thế chấp có trách nhiệm thông báo cho người này biết trước khi họ thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đây là điểm quan trọng nhằm xác định rõ việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ thế chấp.
3. Xử lý tài sản thế chấp là quyền đòi nợ như thế nào?
Điều 54 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định về xử lý tài sản bảo đảm là vật đồng bộ; tài sản có tài sản gắn liền; quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác; giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi; vận đơn, chứng từ vận chuyển như sau:
- Bên nhận bảo đảm được xử lý đồng thời toàn bộ các phần, các bộ phận của tài sản bảo đảm là vật đồng bộ. Trường hợp tài sản bảo đảm bao gồm nhiều tài sản gắn liền mà có thể chia được thì xử lý theo từng tài sản, không chia được thì xử lý đồng thời;
- Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người thứ ba là người có nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ trả nợ hoặc có nghĩa vụ khác chuyển giao khoản tiền hoặc tài sản khác cho mình. Bên nhận bảo đảm phải chứng minh quyền của mình trong trường hợp người có nghĩa vụ có yêu cầu;
- Bên nhận bảo đảm xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định tại Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP;
- Bên nhận bảo đảm khi thực hiện quyền chiếm hữu đối với hàng hóa ghi trên tài sản bảo đảm là vận đơn, chứng từ vận chuyển có nghĩa vụ xuất trình vận đơn, chứng từ vận chuyển theo thủ tục được pháp luật về hàng hải, hàng không hoặc pháp luật khác liên quan quy định. Trường hợp pháp luật này không quy định thì việc xử lý hàng hóa ghi trên vận đơn, chứng từ vận chuyển áp dụng quy định tại Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP;
- Trường hợp bên nhận bảo đảm đồng thời là người có nghĩa vụ thanh toán thì bên nhận bảo đảm được bù trừ nghĩa vụ từ khoản tiền hoặc tài sản thu được quy định tại Điều 54 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.
Như vậy: Khi tài sản thế chấp là quyền đòi nợ, khoản phải thu hoặc quyền yêu cầu thanh toán khác, bên nhận bảo đảm có quyền trực tiếp yêu cầu người thứ ba đang có nghĩa vụ thanh toán, trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ chuyển giao khoản tiền, tài sản tương ứng cho mình để xử lý tài sản bảo đảm.
- Trong trường hợp người có nghĩa vụ yêu cầu, bên nhận bảo đảm phải chứng minh được quyền của mình đối với khoản phải thu hoặc quyền đòi nợ đang được xử lý. Số tiền hoặc tài sản thu được từ việc thực hiện quyền đòi nợ sẽ được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm theo thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật.
- Trường hợp bên nhận bảo đảm đồng thời cũng là người có nghĩa vụ thanh toán đối với bên bảo đảm thì các bên có thể thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ từ khoản tiền hoặc tài sản thu được theo quy định.
- Có thể hiểu một cách đơn giản, khi nghĩa vụ được bảo đảm đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên nhận thế chấp không nhất thiết phải “bán” quyền đòi nợ như đối với tài sản thông thường mà có thể trực tiếp thực hiện quyền yêu cầu người đang mắc nợ thanh toán cho mình. Đây là cơ chế đặc thù trong việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ, giúp bên nhận bảo đảm thu hồi khoản tiền để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm một cách trực tiếp và hiệu quả.
